• thanhanhniem2
  • ttl3
  • phattuvandao1
  • lopbatchanhdao
  • amthat2
  • huongdantusinh
  • phattuvandao3
  • quetsan
  • toduongtuyetson
  • tinhtoa2
  • benthayhocdao
  • thanhanhniem3
  • vandaptusinh
  • amthat1
  • lailamtoduong1
  • tamthuphattu
  • ttl1
  • amthat3
  • thanhanhniem1
  • daytusi
  • tinhtoa1
  • khatthuc1
  • chanhungphatgiao
  • tranhducphat
  • ThayTL
  • vandao2
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy "Thân Hành Niệm" cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc tại Hòn Sơn Thánh Tích
  • Phật tử vấn đạo Thầy Thông Lạc
  • Thầy Thông Lạc đi khất thực
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy cho các tu sinh
  • Thầy Thông Lạc vấn đáp đạo cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc quét dọn sân
  • Tổ đường Tuyết Sơn
  • Thầy Thông Lạc đang ngồi tĩnh tọa
  • Bên Thầy Thông Lạc học đạo
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy "Thân Hành Niệm" cho các Phật tử
  • Bên Thầy Thông Lạc học đạo
  • Am thất
  • Thầy Thông Lạc lai lâm tổ đường
  • Thầy Thông Lạc trả lời tâm thư Phật tử
  • Thầy Thông Lạc
  • Thầy Thông Lạc đi khất thực
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy "Thân Hành Niệm" cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy tu sĩ
  • Thầy Thông Lạc đang ngồi tĩnh tọa
  • Thầy Thông Lạc đi khất thực
  • Thầy Thông Lạc viết sách
  • Tranh đức Phật
  • Thầy Thông Lạc
  • Thầy Thông Lạc giảng đạo cho các Phật tử
JGLOBAL_PRINT

Phần thứ hai: Giới Đức Của Người Tu Sĩ

COM_CONTENT_ARTICLE_HITS

TRƯỞNG LÃO THÍCH THÔNG LẠC

GIÁO ÁN TU ĐẠO PHẬT

II.- GIAI ĐOẠN XUẤT GIA


Phần thứ hai:  GIỚI ĐỨC CỦA NGƯỜI TU SĨ

Hằng phút hằng giây trong giai đoạn giới đức này quý thầy phải tu tập trau dồi nhiều hơn phần giới hạnh. Trong giai đoạn giới hạnh, quý thầy phải dứt bỏ và sống cho đúng hành động của mình trong sơ thiện (giới hạnh), phần giới hạnh ít tu tập trau dồi mà phải sống cho đúng, chỉ dứt bỏ hành động ác mà sống trong thiện. Phần giới hạnh là phần dứt bỏ, phải từ giả không làm nữa. Phần này là phần giữ gìn cảnh giác nghiêm ngặt, mọi hành động không được vi phạm, dù sự việc rất nhỏ cũng không được lầm lạc.

 

Trái lại, phần giới đức cần phải trau dồi tu tập hết sức vì đây là phần đức rất là quan trọng. Phần giới đức cần có pháp hành để tu tập và trau dồi. Trong giới đức cũng có phần dứt bỏ. Thí dụ mình đang ghiền thuốc út mà chỉ trau dồi này kia trong khi vẫn hút thuốc thì làm sao dứt bỏ, do vậy phải tự mình dứt bỏ hút thuốc, cũng như dứt bỏ không ăn phi thời hay những thói quen khác mà chưa dứt bỏ hết cho tròn giới hạnh và tiếp tục trau dồi giới đức.

Trước khi học giới đức Thầy xin kể lại một số chuyện trau dồi của các bậc Thánh Tăng để chúng ta nương theo gương giới đức của các ngài mà sách tấn trên đường trau dồi tu tập.

Khi tu xong rồi, ngài Punnaxin Phật đi hóa độ cho người ở vùng biên cương Sunàparanta, đức Phật hỏi để trắc nghiệm xem ông có thể thực hiện được con đường giáo hóa chúng sanh không. Nghe ông trả lời, Phật xác nhận ông đầy đủ phẩm chất để làm việc đó. Qua câu chuyện của ông chúng ta tìm hiểu xem ông đã tu pháp nào mà lậu hoặc quét sạch. Không phải các tỳ kheo tu hết các pháp môn đức Phật dạy mà các ngài chỉ tu trong pháp hợp căn cơ của mình. Người ta dùng đề mục thiền quán xả sạch tâm của mình hết lậu hoặc, từ đó người ta nhập các định dễ dàng, không khó khăn và thực hiện tam minh để chấm dứt luân hồi. Chúng ta lấy các kinh nghiệm này rút tỉa ra con đường tu tập cho dễ dàng hơn nhờ vậy chúng ta đi ngay vào thiền an lạc trú thánh định không còn khó khăn. Khi tâm chúng ta còn lậu hoặc thì tu rất khó dừng hơi thở.

1.- Khi đến tuổi trưởng thành ông Punna đi với một đoàn lữ hành thương gia đến nước Savatthi, được nghe Thế Tôn thuyết pháp, ông khởi lòng tin và xin xuất gia. Phật cho một đề tài thiền quán "Hộ trì các căn". Chúng ta thấy ông chỉ tu pháp hộ trì các căn mà thành tựu tam minh. Ở đây cho chúng ta thấy rằng mỗi giáo pháp của Phật đều có sự vi diệu của nó, cho nên chúng ta chỉ chọn lấy một đề tài nào đó mà thực hiện thì chúng ta sẽ đạt được con đương giải thoát, chứ đâu cần nương vào hơi thở, dừng hơi thở để nhập Tứ thiền. Nhiều khi chúng ta tu điều đó mà tâm chúng ta chưa hết lậu hoặc thì chúng ta cũng chưa đạt được tam minh. Đức Phật cho ông Punna đề tài thiền quán là hộ trì các căn môn tức là pháp môn Thánh Hộ Trì Các Căn làm cho các căn của ông không dính mắc các đối tượng, từ đó ông xả li, diệt được các lậu hoặc, thành tựu được tam minh. Vì sự quyết tâm tu tập và biết rõ đường tu trong giáo pháp của đức Phật cho nên chỉ trong thời gian ngắn nỗ lực thực hiện rốt ráo trong thời gian ở nơi độc cư yên tịnh ở trong rừng xa vắng và chứng đạo. Nghĩa là ngài chỉ nhắm quét sạch các lậu hoặc nên đạt cái vi diệu của Phật pháp chứ không phải tu luyện cái gì khác hết. Sau đó ngài đã giáo hóa cho hơn 500 cư sĩ ở vùng biên cương đó theo ngài tu học. Khi gần lâm chung, ngài có để lại bài kệ kinh nghiệm tu hành của ngài. Đây là bài kệ:

Ở đây chỉ có giới

Nghĩa là ông đến với đức Phật ông chỉ thấy có giới mà quý thầy biết hộ trì các căn môn đó là giới hạnh chúng ta tu tập chứ không có gì khác hơn, cho nên ông mới nói “Ở đây chỉ có giới”.

Là Pháp thật tối thượng

Ông ca ngợi giới luật là pháp Phật tối thượng

Vị nào có trí tuệ
Cũng chỉ là vô thượng

Nghĩa là mình có trí tuệ mà trí tuệ là giới luật, giới luật là trí tuệ như Thầy đã xác định ở trong bài kinh đức Phật đã dạy. Cho nên dù có trí tuệ thông minh đi nữa chỉ là vô thượng chứ không thể tối thượng được.

Vị nào đủ giới tuệ
Làm thầy cõi nhân thiên

Chúng ta phân biệt rõ giới hạnh, giới đức, giới tuệ. Mà bây giờ đủ giới tuệ thì phải có giới hạnh giới đức rồi mới có giới tuệ cho nên vị này làm thầy cõi nhân thiên. Do có giới tuệ chúng ta nói chuyện với tam thiên được, nghe chư thiên nói chuyện được. Khi chúng ta chưa có trí tuệ thì chắc chắn không nói chuyện với chư thiên được. Chúng ta phân biệt rõ giới hạnh, giới đức, giới tuệ. Mà bây giờ đủ giới tuệ thì phải có giới hạnh giới đức rồi mới có giới tuệ, cho nên làm thầy cõi nhân thiên. Do có giới tuệ chúng ta nói chuyện với tam thiên được, chúng ta nghe chư thiên nói chuyện được, chưa có trí tuệ thì chắc chắn chúng ta không nói chuyện với chư thiên được.

Đề tài Hộ Trì Các Căn Môn tức là pháp để giữ gìn giới hạnh nghiêm túc các căn môn của chúng ta. Thánh Hộ Trì Các Căn là pháp Thánh để hộ trì các căn của mình, vậy Thầy đọc lại bài kệ này để chúng ta thấm thía bài học giới luật của chúng ta:

Ở đây chỉ có giới
Là pháp thật tối thượng.
Vị nào có trí tuệ
Cũng chỉ là vô thượng
Vị nào đủ giới tuệ
Làm thầy cõi nhân thiên

Bài kệ này nhắc lại kinh nghiệm tu thế nào mà ngài Punna đạt được ba cái giới này, được làm thầy cõi nhân thiên.

2.- Giờ Thầy đọc thêm một vị Thánh Tăng trong thời đức Phật nữa, ngài Vassabala. Trong một buổi gặp gở của vua Bimbisara với đức Phật thấy đức Phật hàng phục được ngài Maha-Kassapa, do thế mà ngài Vassabala khởi lòng tin và xuất gia, chỉ trong một tuần lể ngài triển khai thiền quán giới đức, giới hạnh, giới tuệ ngài chứng được 6 thắng trí và chứng quả Alahán. Ngài có làm bài kệ nói lên kinh nghiệm tu hành của ngài như sau:

Nếu thấy được sự thật
Thật vi diệu vi tế
Với trí tuệ thiện xảo
Với tâm tư khiêm tốn
Sống rập theo giới luật
Do chính đức Phật dạy
Với người ấy Niết bàn
Chứng đạt không khó khăn.

Sống rập theo giới luật nghĩa là giới luật Phật đặt ra mình sống y như vậy mà với trí tuệ thiện xảo, với tâm tư khiêm tốn thì sống rập theo giới luật mới được. Vậy ông tu cái gì? Ông nói: Khi hiểu được sự thật pháp của Phật thật là vi diệu thật là vi tế rồi thì sống rập theo giới luật không có khó khăn đâu và chứng Niết bàn không khó. Đây là bài dạy giới cho nên Thầy chọn lựa bậc Thánh Tăng trong thời đức Phật đã tu về giới; nhưng khi dạy về giới đức thì Thầy chọn những vị tu về giới đức tức là tu về thiền định, tu về Tứ Niệm Xứ, hoặc Bốn Định, hoặc là Tứ Như Ý Túc để lấy những gương hạnh tu hành của vị đó cho chúng ta thực hiện. Chúng ta chọn những bậc Thánh Tăng như vậy để nương theo, cho nên các gương hạnh này không thể thiếu trong giáo án này được. Các thầy chỉ chọn lấy gương hạnh nào của quý ngài phù hợp với mình để nương theo mà tu tập.

3.- Đây là vị thứ ba: Ngài Nita. Ngài xin Phật xuất gia để được sống thoải mái đời sống của tu sĩ, nghĩa là ngài thấy đời sống của tu sĩ ăn ngày một bữa thoải mái, đi xin ăn, rồi ngủ, rồi chơi, không làm gì hết, sướng quá, xét qua đời sống của tu sĩ sướng hơn ngoài đời nhiều cho nên ngài Nita xin Phật xuất gia chỉ vì mục đích đó thôi. Đây là vị tăng làm biếng nhất trong tăng đoàn của đức Phật cho nên khi xuất gia rồi, ngài không chuyên chú vào sự tu tập, chỉ tu lấy lệ, chuyên ăn no và nói chuyện nhảm nhí và ban đêm thì ngủ dài. Bậc đạo sư thấy vậy nên nói lên bài kệ để giáo giới cho ngài:

Trọn đêm ngươi nằm ngũ
Ban ngày thì tụ hội
Kẻ ngu sống như vậy
Sẽ đoạn khổ được sao?

Do lời dạy này của đức Phật, ngài bị dao động nên triển khai thiền quán, đặt niệm ăn uống ngũ nghĩ nói chuyện nhảm nhí trước mặt tu định vô lậu, chẳng bao lâu ngài chứng quả Alahán, ngài lấy bài kệ của bậc đạo sư làm bài kệ chứng đạo của mình, và cũng là bài pháp hướng tâm tu hành.

Các thầy thấy khi người ta bị cái tật gì mà bị quở là thấy xấu hổ lắm nên người ta lấy cái đó làm thiền quán và quét sạch tâm vô lậu và chứng tam minh. Cho nên mình có tật nào thì bắt chân kiết già thiền quán, quán cho sâu cho bật cái tật đó ra thì thành tựu đạo Phật, vì cái đó là điều cốt cán làm cho đời sống chúng ta thoát khổ.

4.- Bây giờ quý thầy nghe tiếp thêm các bậc Thánh Ni: Bà Dantikà là con gái của một vị giáo sĩcủa nhà vua, khi đến tuổi trưởng thành, bà trở thành một tín nữ của Jetavana (Kỳ Viên Tịnh Xá) nghĩa là bà là một người hộ trì của Jetavana, về sau bà xuất gia được sự hướng dẫn của bà MahàPajàpati. Một hôm bà leo lên núi Linh Thứu ở Ràjagaha chơi sau bữa ăn cơm ngọ, bà thấy một người nài điều khiển con voi, nhờ thấy vậy, bà tin nơi lời Phật dạy điều khiển tâm mình như người nài điều khiển con voi. Do sự tùy pháp, hướng pháp, bà điều khiển tâm mình, bà làm chủ được nó và chứng quả Alahán. Vậy điều khiển như thế nào? Cũng như chúng ta ăn ngày một bữa mà một lát thèm ăn cái gì khác thì chúng ta diều khiển "đừng có ăn" tức là để trừ lòng ăn vặt chúng ta hướng tâm, tùy theo pháp hướng chúng ta trạch ra thích hợp cho ta, như vậy chúng ta điều khiển tâm như điều khiển con voi. Bà điều khiển cho đến mức bảo các hành ngưng, hơi thở ngưng thì chúng cũng ngưng theo, tức là bà đã điều khiển được cái tâm của bà, cho nên bà chứng đạt quả Alahán.

Các thầy thấy đâu phải bà ngồi quán cái gì, bà chỉ theo dỏi cái tâm của bà tức bà phòng hộ sáu căn. Chẳng hạn khi thấy cái gì mà tâm khởi lên tư tưởng gì thì tác ý cho tâm trở về bất động với cái đó là diệt trừ lậu hoặc, đó là tu phòng hộ sáu căn, là mình đã thuần hóa con voi tâm của mình để cho nó theo sự điều khiển của mình mà nó không còn ham muốn gì hết, khi tâm không còn ham muốn gì hết là lậu hoặc hết sạch như vậy điều khiển được tâm, khi đó mình dùng pháp hướng bảo các hành ngưng thì nó ngưng, vì vậy mình làm chủ sự sống chết của mình. Bà chỉ tu pháp phòng hộ sáu căn mà thành tựu, cũng như ngài Punna. Như vậy chúng ta thấy gương hạnh của bà nói lên sự tu tập phòng hộ sáu căn. Bà có bài kệ nói lên kinh nghiệm tu tập của mình:

Ra khỏi ngôi Tịnh Xá
Để nghỉ trưa ban ngày
Trên đỉnh núi Linh Thứu
Ta thấy một con voi
Dầm nước xong đi lên
Trên bờ một con sông
Một người cầm cái móc
Yêu cầu nó duổi chân
Con voi duổi chân ra
Và người nài lên voi
Thấy kẻ chưa nhiếp phục
Đi đến được nhiếp phục
Ta thấy nó vâng chịu
Theo quyền lực của người
Như vậy ta định tâm
Đi vào trong rừng ấy

Nghĩa là bây giờ bà đi vào trong rừng yên tịnh thanh vắng để điều khiển cái tâm

Ta làm chủ được tâm
Sai bảo nó vâng theo
Sống chết ta tự tại
Chấm dứt được luân hồi.

Bà nói rất rõ bà chỉ thấy con voi và người nài mà thức tỉnh được để tu pháp phòng hộ sáu căn, tu chứng đạo. Còn các thầy tu sao đây? Bài kia (Punna) đức Phật nói rõ pháp cho Punna tu là phòng hộ sáu căn, còn bà Dantikà thì đức Phật không trao mà bà trèo lên núi Linh Thứu chơi và thấy người điều khiển voi rồi bà điều khiển tâm, như vậy bà điều khiển sáu căn là pháp hộ trì các căn, cũng y như pháp đức Phật trao cho Punna, vậy thôi.

5.- Bà Ubirì ở tuổi thanh xuân, bà rất đẹp và được đưa vào hậu cung của vua Bimbisara, sau vài năm bà sanh một đứa con gái rất đẹp đặt tên là Jiva, nhưng đứa con gái bà bị chết, ngày nào bà cũng ra nghĩa địa than khóc, bậc đạo sư thấy vậy đến và hỏi bà: "Tại sao ngươi khóc?". Bà đáp: "Bạch Thế Tôn, con khóc đứa con gái của con". Thế Tôn nói: "Tại nghĩa địa này có 84,000 đứa con gái chết bị thiêu, vậy ngươi khóc than cho ai". Rồi Thế Tôn chỉ cho bà những chỗ đất mà người chết bị thiêu và Thế Tôn đọc một bài kệ:

Hởi nàng Ubirì
Người khóc nơi nghĩa địa,
Khóc than ôi Jiva
Con gái thân của tôi
Hãy tự mình hồi tỉnh
Hởi này Ubirì
Trong bải đốt tử thi
Khóc cả tám vạn tư,
Người đồng tên Jiva
Người khóc Jiva nào

Nghĩa là đức Phật khuyên trong nghĩa địa này có 84,000 người chết có cùng tên Jiva. Vậy bà khóc cho ai trong số 84,000 con gái tên Jiva hay khóc cho cả 84,000 người con gái đó. Nghĩa là có bao người chết chứ đâu phải chỉ mình Jiva của bà, vậy bà khóc gì đây. Đức Phật chỉ nhắc bà như vậy. Sau khi được bậc đạo sư chỉ dạy, bà suy tư, xin bậc đạo sư xuất gia tu hành. Chẳng bao lâu với đề tài thiền quán người chết, bà chứng quả Alahán. Tức bà lấy chỗ đau khổ nhất là đứa con gái, người thân của bà chết tu thiền quán, chẳng bao lâu thì bà chứng quả Alahán. Có phải vấn đề này ngoài vấn đề Phật pháp không? Không phải đâu. Trong Phật pháp có sanh lão bệnh tử khổ, mà đây là đề tài về "chết khổ", cho nên bà quán xét cái chết, thấu được lí sanh tử nên bà giải thoát hết lậu hoặc. Chúng ta thấy đó là một đề mục thiền rất cụ thể cho nội tâm của bà mẹ thương người con quá tha thiết. Lấy cái đó làm đề mục tu thì giải quyết biết bao nhiêu sự ham muốn của đời người cho nên lậu hoặc bà quét sạch. Đây là bài kệ của bà:

Mũi tên khó nhìn thấy
Đâm dính nơi tâm ta,
Chắc chắn đã được Ngài,
Nhổ lên khỏi tâm ta,
Sầu muộn vì con gái,
Làm cho ta sầu khổ.
Sầu muộn ấy không còn
Đã được chấm dứt hẳn
Nay mũi tên được nhổ,
Mọi ham muốn lắng dịu
Ta đi đến quy y,
Bậc ẩn sĩ Mâu ni,
Quy y Ba ngôi báu,
Phật, Pháp và chúng Tăng.

Chỉ có sự đau khổ vì đứa con thôi, thế mà được bài kệ của đức Phật, bà đã giải thoát được nổi khổ và khi đến tu hành, bà lấy đề tài đó làm pháp hướng tu tập và cuối cùng Bà chứng quả Alahán. Như vậy bà tu pháp môn nào đây? Bà lấy cái chết để quán phá đi lậu hoặc của bà tức là bà tu Định Vô Lậu. Trong khi mình thấy đề mục đó thì mình biết bà tu Định Vô Lậu rồi. Còn cái kia tu Phòng Hộ Sáu Căn, người ta không tu Định Vô Lậu mà người ta điều khiển cái tâm đừng cho dính mắc, đừng cho dính mắc nên riết nó không dính mắc nữa, nó cũng vô lậu hết, thành ra không có thiền quán vô lậu mà bằng trực tiếp ý thức của chúng ta xả tâm. Còn ở đây lấy đề mục người chết tức là phải có sự quán thấu suốt được lí của sự chết, cho nên nó phải là vô lậu, phải đặt cái niệm sự chết đó trước mặt của mình rồi quán xét người chết này đến người chết khác, mọi cái chết cũng đều như nhau cho nên cuối cùng bà không còn đau khổ nữa và cái tâm phiền muộn của bà, cái tâm ham muốn của bà cũng tan biến mất đi, thì đó là lậu hoặc sạch, cho nên bây giờ chính là lúc bà quy y Tam Bảo. Bậc ẩn sĩ Mâu ni tức là đức Phật là một ẩn sĩ. Một ẩn sĩ thì không cầu danh cầu lợi, chỉ ai khổ thì Ngài đến độ. Bà này bị mất con nên sầu khổ mà Ngài đi khất thực biết được bà khổ nên đến độ, chứ đi khất thực mà vô nghĩa địa làm gì. Ngài biết trong đó có người quá thống khổ và người này có thể độ được cho nên lấy cái đề mục thiền đó hướng dẫn cho bà. Những bậc ẩn sĩ đi tìm những bậc có cái duyên sắp sửa thành tựu được chỗ tu hành cho nên bậc ẩn sĩ chỉ sử dụng bài kệ, còn như người bình thường chưa đủ duyên, chưa có sự thống khổ đến mức độ như vậy thì dù đức Phật có dùng 100 bài kệ chắc không độ người ta nổi đâu, người ta còn ham làm giàu, còn ham vợ đẹp con xinh, còn ham đủ thứ thì chắc chắn có nói gì người ta cũng trơ trơ, họ không tu nổi đâu.

Đây là những gương hạnh để chúng ta lấy đó làm gương tu hành.

Trước khi tiếp tục giáo án, Thầy cần nhắc quý thầy cần lưu ý những bài pháp bổ túc thêm cho giáo án làm sáng tỏ thêm phần tu tập của chúng ta đầy đủ về lí pháp và hành pháp để quý thầy biết cách tu tập rõ ràng sau này khi không có Thầy, cho nên thường có những bài bổ túc thêm trong giáo án. Nghĩa là khi quý thầy tu gặp khó khăn thì nhớ những bài bổ túc thêm đó sẽ làm sáng tỏ ra cho quý thầy. Còn quý thầy cứ ở trong giáo án nghe Thầy giảng suông suông về giới hạnh, giới đức, giới tuệ mà không có những bài bổ túc thêm thì quý thầy khó nắm vững để tu tập. Chính các bài bổ túc làm cho quý thầy thông hiểu rõ để tu tập.

Như vào đầu giáo án đức Phật đã dạy chúng ta có 4 điều kiện cần phải thực hành cho đúng và cho nghiêm túc. Đó là 4 điều kiện: Thông hiểu, trau dồi, dứt bỏ, tu tập.

Thế nào là thông hiểu: phải thông hiểu giới hạnh, phải thông hiểu giới đức, phải thông hiểu giới tuệ. Sau khi thông hiểu rồi thì phải trau dồi. Trong khi trau dồi thì có những cái chúng ta cần phải dứt bỏ cũng có những cái chúng ta cần giữ lại, thì những bài bổ túc cho chúng ta biết dứt bỏ cái gì để lại cái gì. Rồi đến phần hằng ngày chuyên cần tu tập cho căn bản cho thấm nhuần. Ở đây quý thầy cần phải biết những pháp nào thông hiểu, những pháp nào trau dồi, những pháp nào dứt bỏ, những pháp nào tu tập.

Bây giờ chúng ta phải học tiếp giới đức cho xong, sau đó chúng ta phải học tới giới tuệ và giới bổn. Thầy thấy giới luật quá tuyệt nên chúng ta phải học kỹ để biết đường lối tu tập.

Ở đây vị tỳ kheo phải hộ trì các căn, nghĩa là vị tỳ kheo phải giữ gìn mắt tai mũi miệng thân ý của mình. Khi học giới đức thì quý thầy thấy pháp hộ trì các căn đứng hàng đầu mà chính đó là giới đức của chúng ta bởi vì khi ra đường mắt chúng ta nhìn xuống là hộ trì con mắt để không thấy các vật thì tâm không ham muốn. Tâm không ham muốn là giới đức của chúng ta, cái đức là ở trong tâm chúng ta, còn mắt nhìn xuống là hành động. Cho nên người ta nhìn cái đức của vị tỳ kheo đi không ngó qua ngó lại thì người ta biết vị tỳ kheo đó có giới đức nghiêm chỉnh, không bị giao động, vì không ngó qua ngó lại thì đâu có thấy vật gì cho nên tâm không bị giao động. Vị tỳ kheo phải phòng hộ mắt tai mũi miệng thân ý của mình, đó là giới đức đầu tiên mà vị tỳ kheo cần phải học.

Trước khi học bài này Thầy đã nêu lên gương các vị tỳ kheo Thánh tăng tu pháp hộ trì các căn. Đó là người ta đã thực hiện tu giới đức đó. Quý thầy thấy Thầy dạy một bài pháp là phải có sự thực hiện bài pháp đó để chúng ta lấy gương đó mà tu tập.

Thế nào là vị tỳ kheo hộ trì các căn? Vị tỳ kheo khi mắt thấy sắc không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến cho nhãn căn không được chế ngự khiến cho tham ái ưu bi, các bất thiện pháp khởi lên, vị tỳ kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn và nỗ lực thực hành sự hộ trì nhãn căn. Có những nguyên nhân nào khi mắt thấy vật mà sanh ra ham muốn ưa thích, dính mắc thì mình phải chế ngự nguyên nhân đó. Thí dụ khi ra đường gặp người phụ nữ thấy họ cười với mình rồi về bị tâm tham ái người đó nổi lên. Đó là vì nhãn căn không được chế ngự nên thấy người ta cười với mình rồi về tương tư sầu não, làm tâm ưu bi sầu khổ khởi lên, các pháp bất thiện khởi lên. Vị tỳ kheo phải biết rõ nguyên nhân đó nên trừ diệt và thực hiện sự hộ trì nhãn căn không cho dính các pháp đó, quét sạch các pháp đã dính mắc ra khỏi tâm, nhờ vậy tâm thanh thản, không ưu bi sầu khổ nữa. Ở đây đức Phật bảo chúng ta hộ trì các căn làm cho chúng ta thoát ra khỏi dòng lôi cuốn trói buộc chúng ta bằng những sợi dây vô hình chắc chắn này.

Khi tai nghe tiếng, mũi ngử mùi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý nhận biết các pháp, vị tỳ kheo ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng nhờ hộ trì cao quý các căn ấy, do sự hộ trì này mà tâm không đắm nhiễm các pháp thế gian nên nội tâm thanh tịnh, thanh thản, không cấu uế tham dục, do vậy thân tâm hưởng lạc trọn vẹn của giới đức này. Nghĩa là khi chúng ta hộ trì các căn, là chúng ta thực hiện được các giới đức thì chúng ta hưởng trọn vẹn lợi lạc của học giới này. Vị tỳ kheo giữ gìn phòng hộ sáu căn rất quan trọng trong sự trau dồi giới đức của họ. Vị tỳ kheo trau dồi tu tập giữ gìn sáu căn không cho dính mắc sáu trần như vậy được tâm thanh tịnh trong sạch không cấu uế trần cảnh như vậy là giới đức của vị ấy thứ nhất trong giới luật của đức Phật.

Ở đây vị tỳ kheo phải chánh niệm tỉnh giác. Thế nào là vị tỳ kheo chánh niệm tỉnh giác. Chánh niệm tỉnh giác là một giới đức của vị tỳ kheo cần phải trau dồi tu tập hằng ngày không được biếng trễ. Chúng ta thấy đức Phật gọi phòng hộ sáu căn là Thánh Phòng Hộ sáu căn; định Chánh Niệm Tỉnh Giác là Thánh Chánh Niệm Tỉnh Giác, chúng ta nghe tên chúng ta biết đó là pháp của những bậc Thánh tu hành chứ không tầm thường. Vậy thế nào là chánh niệm tỉnh giác. Thánh Chánh Niệm Tỉnh Giác là giới đức của vị tỳ kheo cần phải trau dồi tu tập hằng ngày không được biếng trễ. Vị tỳ kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác, khi nhìn thẳng khi nhìn quanh đều tỉnh giác. Nghĩa là đi tới đi lui, nhìn tới nhìn lui, nhìn quanh đều tỉnh giác, như vậy tỉnh giác để làm gì? - Để phòng hộ sáu căn để không bị dính mắc; cho nên lúc nào cũng phải tỉnh giác trong hành động của mình: đi, liếc, ngó. Khi co tay khi duổi tay đều tỉnh giác, khi mang y thượng, y kép đều tỉnh giác. Khi ăn uống nhai nuốt đều tỉnh giác. Khi đi đại tiểu tiện đều tỉnh giác. Khi đi, đứng, nằm, ngồi, thức, nói, yên lặng, thầm lặng đều tỉnh giác. Nói chung là tất cả các hành động của thân khẩu ý lúc nào cũng đều có sự tỉnh giác. Niệm hành động luôn luôn không mất tức là không thất niệm, nghĩa là luôn luôn giữ niệm hành động của mình không để cho mất tức không thất niệm, nếu mất tức là mình bị thất niệm. Thí dụ mình đương ngó ra mà quên đi, đó là mình bị thất niệm. Cho nên đức Phật thường nhắc chúng ta là khi tu một pháp nào, đang luyện tập một pháp nào thì luôn luôn phải đừng cho thất niệm. Như vậy là giới đức của vị tỳ kheo thứ hai trong giới luật của đức Phật.

Như vậy chúng ta thấy giới có tuần tự. Nếu quý thầy tu Chánh Niệm Tỉnh Giác thì trước đó phải tu Phòng Hộ Sáu Căn. Khi quý thầy "Đi kinh hành tôi biết tôi đi kinh hành" là quý thầy đã tu lớp 2 mà bỏ qua lớp 1 là lớp phòng hộ các căn. Lớp 1 là tu phòng hộ sáu căn, rồi qua lớp 2 của giới đức là Chánh Niệm Tỉnh Giác. Khi tỉnh giác là để chúng ta giữ gìn phòng hộ sáu căn; khi thấy, nghe,... đều quan sát cho nên mình tỉnh thức. Tỉnh thức để ngăn lòng ham muốn của mình, nếu không tỉnh thức thì lòng tham muốn xâm chiếm, ác pháp xâm nhập tâm hồn chúng ta. Đó là lớp 1 tu Thánh Phòng Hộ Sáu Căn, lớp 2 của giới đức thì tu Thánh  Chánh Niệm Tỉnh Giác, chúng ta tu phòng hộ được rồi, từ phòng hộ ăn uống, mặc y áo,... phòng hộ khỏi dính mắc mọi vật rồi, khi qua tu Chánh Niệm Tỉnh Giác thì rất tỉnh giác.

Nhờ giới đức tỉnh thức này nên ngũ triền và ngũ kiết sử không xâm chiếm được tâm của vị ấy. Sau này khi đến giới tuệ Thầy sẽ dạy cho quý thầy về ngũ triền cái và ngũ kiết sử và thất kiết sử để quý thầy biết những cái đó là cái gì mà chúng ta phải quét sạch nó ra. Bây giờ chúng ta chỉ lướt qua để chúng ta biết thôi. Nhờ giới đức tỉnh thức này nên ngũ triền và (thất) ngũ kiết sử không xâm chiếm được tâm của vị ấy. Vị ấy sống hoàn toàn thanh thản an lạc, tâm của vị ấy lần lần thanh tịnh trong sạch. Ở đây vị tỳ kheo ít muốn, biết đủ.

Thế nào là ít muốn, biết đủ? Đây là giới đức của vị tỳ kheo nên cần tu tập hằng ngày, bởi nếu không trau dồi tu tập hằng ngày thì khó sống được giới đức này. Ở đây vị tỳ kheo phải chấp nhận bằng lòng với ba tấm y để che thân, với đồ ăn đi xin để nuôi bụng, đi đến chỗ nào cũng chỉ mang theo 3 y 1 bát, không thêm cũng không bớt, cũng như con chim bay đến chỗ nào cũng chỉ mang theo hai cánh và chiếc mỏ. Vị tỳ kheo sống bữa đói bữa no mà vẫn không quan tâm mà chỉ quan tâm đến cuộc sống thiểu dục tri túc, giới hạnh và giới đức của người tu sĩ. Chỉ khi đói mới biết vị tỳ kheo có giữ giới thiểu dục tri túc, hay khi y áo rách mục hay bị ướt hết chúng ta mới biết vị tỳ kheo có giữ giới thiểu dục tri túc hay không. Người đời không thể sống thiểu dục tri túc. Người nghèo nói: "Tôi cũng biết đủ", nhưng thật ra vì ông ta không làm giàu được nên đành phải sống trong cảnh nghèo, đó không phải là cái thiểu dục tri túc của Phật giáo. Vị tỳ kheo Phật giáo thiểu dục tri túc trong khi y áo rách mục hay bụng đói, hay đau ốm không thuốc thang thì mới thiểu dục tri túc. Nếu Thầy không giảng như vậy thì quý thầy chỉ thấy sơ sơ chỗ thiểu dục tri túc thì không thấu suốt đạo Phật đâu. Như vậy là giới đức của vị tỳ kheo thứ ba trong giới luật của đức Phật. Chỗ sống thiểu dục tri túc này mà sống được như vậy thì đức Phật coi đó là giới đức của vị tỳ kheo trong giới luật của Phật. Vị tỳ kheo nào sống ngược lại giới đức này là vị tỳ kheo phạm giới đức đạo Phật, vị ấy là trùng trong lông sư tử. Nghĩa là trong cảnh khó mà không giữ tâm của mình thiểu dục tri túc là trùng trong lông sư tử. Cho nên người để dành thuốc men, để dành hai y, để dành hai cục xà bong, để dành hai cây kim,... như vậy đâu phải là thiểu dục tri túc. Thiểu dục tri túc đến mức không còn gì ngoài ba y một bát mới là thiểu dục tri túc.

Vị tỳ kheo khi đã thành tựu giới hạnh và ba giới đức cao quý trên đây, phải xem là cao quý chứ không phải thường cho nên vị tỳ kheo nào giữ được ba giới đức này xứng cho người ta cúi đầu đãnh lễ, coi như là vị Phật sống tại thế gian này.

Thứ nhất là chúng ta phải hiểu các giới hạnh chúng ta đã tu tập ở trên cọng với ba giới đức chúng ta vừa học (giới đức hộ trì các căn, giới đức chánh niệm tỉnh giác, giới đức thiểu dục tri túc) rất quan trọng trong vấn đề tu của đạo Phật. Khi đã tu tập giới hạnh giới đức này viên mãn (tức 25 giới hạnh và 3 giới đức) thì nên lựa một chỗ thanh vắng, tỉnh mịch như rừng cây, ngoài trời, đống rơm, hang núi, khe suối, hang động...(nghĩa là đến những nơi thanh vắng để tu tập thêm những giới đức khác). Khi khất thực ăn cơm xong, vị ấy ngồi kiết già lưng thẳng tại chỗ trên và an trú chánh niệm trước mặt. Khi thực hiện 25 giới hạnh và giới đức trên hoàn toàn viên mãn mới thực hiện tiếp các giới đức này, chứ chưa viên mãn thì dù thực hiện tiếp cũng không thành tựu, bởi lớp thấp phải học cho xong thì mới lên lớp cao. Khi lên lớp cao này thì chúng ta phải đầy đủ 25 giới hạnh và đạt được ba giới đức như đã giảng trên. Đủ điều kiện đó chúng ta mới vào rừng để tu tập giới đức tiếp sau đây theo cách thức sẽ dạy.

Vị tỳ kheo sau khi ngồi kiết già lưng thẳng đứng, vị ấy đặt niệm tham ái trước mặt. Mặc dù vị ấy đã quét tham ái nhưng chưa quét sạch hết tham ái trong lòng mình cho nên đi vào trong rừng tìm chỗ thanh vắng thanh tịnh rồi ngồi lưng thẳng đặt niệm tham ái trước mặt quán xét tận tường tham ái, vị ấy từ bỏ tham ái ở đời. Quán xét cho thấu suốt nó tức là tu Định Vô Lậu mới từ bỏ lòng tham ái của chúng ta được. Quý thầy thấy chỗ tu của đạo Phật có từng bước rất rõ ràng, tu mù mờ theo kiểu ngồi thiền hít thở là không phải cách thức tu tập. Vị ấy sống với tâm thoát li tham ái, gọt rửa tâm hết tham ái. Quý thầy thấy khi vị ấy đặt niệm tham ái để quán xét, tức dùng pháp quán quan sát tham ái của mình nó như thế nào, nó sanh khổ như thế nào, nó sanh khổ ra sao, để quét sách ra.Như từ lâu tới giờ mình có những tham ái làm cho mình dằn vặt đau khổ trong lòng thế nào, mặc dù qua những giới hạnh và giới đức ở trên đã làm cho mình được tỉnh thức cao và xả li nhiều những tham ái thô thì bây giờ quét sạch những tham ái vi tế trong lòng. Các tham ái thô chưa quét hết mà đi quét tham ái vi tế thì chắc là ngồi quét sơ sơ như xoa cái da của tham ái chứ nhằm nhò gì cái tâm tham ái đâu, làm sao hết tham ái được. Phải thấu suốt được tâm tham ái cho nên chúng ta mới li nó ra, phải gọt hết tham ái, phải quét sạch tham ái thì từ đó trí tuệ chúng ta mới phóng ra những tri kiến giải thoát. Đây là giới đức thứ tư của vị ấy trong giới luật của đức Phật.

Khi tâm tham ái đã gọt sạch hết rồi thì bắt đầu chúng ta tiếp tục từ bỏ sân hận, vị ấy đặt niệm sân trước mặt mà quán xét nữa, không có nghĩa là sau khi xả tham ái xong rồi tiếp tục xả tâm sân ngay. Không phải đâu. Trong thời gian một vài ngày, hoặc một hai tuần lễ xả cho xong tâm tham ái, khi xả tâm tham ái xong thì chúng ta nên nghỉ cho khỏe. Khi đã gọt rửa tâm tham ái xong rồi thì vị ấy đặt niệm sân trước mặt mà quán xét, vị ấy từ bỏ tâm sân ở đời, sống với tâm thoát li sân hận, gọt rửa tâm hết sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng sanh hữu tình khắp cả bốn phương, không chỗ nào tâm từ bi của vị ấy không biến mãn đến. Nghĩa là khi sạch hết tâm sân hận thì tâm từ bi của vị ấy phát triển ra được, khi còn tâm sân thì không thương xót chúng sanh đâu mà chỉ là cái thương đối đải, cái thương của thường tình chứ không phải lòng thương của tâm từ bi đâu. Vì vậy muốn đối trị tâm sân thì chúng ta tu Tứ Vô Lượng Tâm để từ bi có mới quét sạch tâm sân. Ở đây chúng ta dùng Định Vô Lậu quét tâm sân ra thì từ bi sẽ thể hiện ra. Khi chúng ta còn là người cư sĩ thì không thể tu theo cách này được, bởi lúc đó chưa sống đời sống xuất gia thoát li gia đình, chưa thực hiện phòng hộ sáu căn, cho nên người cư sĩ phải lấy tâm từ mà tu, lấy bố thí vô lượng mà tu để cho lòng thương yêu đối trị tâm sân không còn sân hận nữa. Nhưng chưa phải quét sạch tận gốc của sân hận cho nên vị tỳ kheo phải đi tới giai đoạn dùng Định Vô Lậu đặt niệm sân, quán xét tâm sân rồi phá vỡ tâm sân. Tâm từ bi hỉ xả bây giờ mới thực hiện chơn thật của từ bi hỉ xả. Hai giai đoạn khác nhau.Người cư sĩ còn sân mà vào tu giai đoạn của tu sĩ chưa chắc đã phòng hộ sáu căn, đình chỉ được tất cả mọi cái, cho nên phải trau dồi lòng từ bi trong chiếc áo của người cư sĩ. Khi đến giai đoạn xuất gia thì người cư sĩ mới quét sạch tâm sân dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn và sâu hơn nữa. Đây là giới đức thứ năm của vị ấy trong giới luật của đức Phật.

Khi đã gọt rửa tâm sân hận, vị ấy đặt niệm hôn trần thùy miên trước mặt. Hồi nãy Thầy có kể chuyện một vị Thánh Tăng đặt niệm buồn ngủ trước mặt để tu thì bây giờ đức Phật cũng dạy chúng ta đặt niệm hôn trầm thùy miên trước mặt để quán xét cho thông suốt niệm hôn trầm thùy miên từ đâu đến mà sanh ra lười biếng buồn ngủ như vậy. Do quán xét thông suốt được vậy thì mình từ bỏ hôn trầm thùy miên, sống với tâm thoát li hôn trầm thùy miên, sống cố gắng gọt rửa cho hết tâm hôn trầm thùy miên với tâm tưởng về ánh sáng, luôn luôn phải giữ tâm chánh niệm tỉnh thức nghĩa là muốn quét sạch tâm hôn trầm thùy miên thì dùng cái tưởng đêm sáng suốt như ngày.

Như vậy mình phải dùng cái tưởng kèm theo để cho hôn trầm thùy miên của mình phải mất đi. Luôn luôn phải giữ chánh niệm là giữ tâm sáng suốt chứ không phải chánh niệm là hành động của ta như ở trước. Cho nên quý thầy phải hiểu Chánh Niệm Tỉnh Thức ở đây là niệm chơn chánh của ánh sáng và thức tỉnh nơi ánh sáng để làm cho hôn trầm thùy miên không có. Cho nên phải biết áp dụng Chánh Niệm Tỉnh Thức nào trong pháp tu thì nó mới có kết quả, còn nếu sai thì chúng ta chẳng biết đường tu tập gọt rửa hết tâm hôn trầm thùy miên. Sau khi hết hôn trầm thùy miên vị ấy phải trau dồi lòng từ mẫn thương xót chúng sanh, không một chỗ nào trong thế gian mà tâm từ bi của vị ấy không biến mãn đến. Đây là giới đức thứ sáu của vị ấy trong giới luật của đức Phật. Như vậy xả được hôn trầm thùy miên là giới đức thứ sáu của vị ấy.

Khi vị tỳ kheo đã gọt rửa hết hôn trầm thùy miên thì vị ấy đặt niệm trạo cử hối tiếc trước mặt, sống tâm không còn trạo cử hối tiếc, từ bỏ trạo cử hối tiếc, sống với nội tâm trầm lặng thanh thản nhẹ nhàng, luôn luôn hân hoan, vì thế lòng từ mẫn thương yêu tất cả muôn loài chúng sanh. Chỗ nào cũng có tâm từ bi biến mãn khắp cùng, nhờ thế trạo cử hối tiếc mới quét sạch, mới gọt rửa hết. Đây là giới đức thứ bảy của vị ấy trong giới luật của đức Phật. Trạo cử là tâm lăng xăng nghĩ cái này nghĩ cái kia liên tục (dòng tư tưởng tùy miên), người nào có độc cư thì mới thấy trạo cử về những việc làm trong quá khứ, như làm phiền lòng cha mẹ anh em, người này người kia. Cho nên khi có dòng tư tưởng trạo cử hối tiếc tùy miên như vậy thì chúng ta phải đặt niệm trước mặt quán xét trạo cử hối tiếc từ đâu sanh ra. Trạo cử hối tiếc thường ở trong quá khứ trào dâng lên không dứt, chỉ khi các kí ức trong quá khứ hết thì trạo cử hối tiếc mới không còn tuôn trào. Cho nên có lần Minh Tông nói với Thầy có sống độc cư mới thấy trạo cử hối tiếc tuôn trào. Do vì vậy chúng ta mới biết có độc cư thì tâm trạo cử hối tiếc mới tuôn trào sạch. Còn ở đây đức Phật lại phòng ngừa, đặt cái niệm trạo cử hối tiếc rồi chúng ta quán xét cái trạo cử hối tiếc. Người ta dùng danh từ trạo hối là bởi nó khởi lên mà có hối hận, hay hối tiếc trong đó làm cho mình đau lòng hay khổ sở. Vì vậy chúng ta tu tập để cho không còn trạo hối đó thì chúng ta phải quán xét tường tận các trạo hối đó từ đâu sanh ra, nó có thật hay không, hay chỉ là một nhân quả nào đó. Nhờ sự trau dồi như vậy, chúng ta mới gọt rửa hết trạo cử hối tiếc. Trạo cử hối tiếc không phải thường cho nên ta phải dùng Định Vô Lậu mới quét sạch. Đây là giới đức thứ bảy của sự tu tập trong giới luật của đức Phật.

Khi vị tỳ kheo đã gọt sạch hết trạo cử hối tiếc xong, vị ấy đặt niệm trước mặt quán xét cho thấu đáo tường tận mạn, vị ấy từ bỏ ngã mạn ở đời, sống với tâm thoát li ngã mạn, gọt rửa cho sạch hết tâm ngã mạn, nhờ thế lòng từ mẫn thương yêu tất cả chúng sanh loài hữu tình với tâm từ bi hỉ xả vô bờ bến biến mãn khắp tất cả muôn phương. Ngã mạn khó quét sạch lắm cho nên chúng ta phải đặt niệm ngã mạn trước mặt và suy tư xem hằng ngày mình có những ngã mạn vi tế như thế nào, nhờ thế chúng ta mới quét sạch ngã mạn. Mình không thấy có ngã mạn trong hành động của mình mà người khác thấy nhưng họ không nói ra. Hành động ngã mạn là tỏ ra ta đây, chẳng hạn khi chúng ta tu được một chút ít gì hay khi chúng ta học được giỏi hơn nhiều người trong lớp rồi coi chừng mình hiu hiu tự đắc hơn người. Buồn vì thua người cũng là ngã mạn. Vì thế oai nghi giới hạnh của người có giới đức thì không bao giờ để người khác thấy ngã mạn của họ. Đây là giới đức thứ tám của vị ấy trong giới luật của đức Phật.

Khi vị tỳ kheo đã gọt rửa tâm hết ngã mạn cống cao vị ấy đặt niệm nghi ngờ trước mặt quán xét thấu đáo tường tận. Chúng ta có nhiều cách nghi ngờ như thấy người đó nói gì đó rồi mình nghi người đó nói xấu mình này khác hay không ưa mình. Do cái tâm nghi ngờ nên sanh ra giận hờn phiền não ghét nhau nên phải đặt niệm nghi để quán xét. Ai làm gì mặc ai thì tâm nghi của mình mới không có. Phần nhiều mình xét hành động người khác về khía cạnh xấu chứ ít khi về khía cạnh tốt của họ, do đó dễ sanh ra nghi ngờ người khác. Cái nghi đó là ngã mạn của mình. Chúng ta chỉ tìm sự giải thoát chứ không khen chê ai đúng sai hết vì sự khen chê của mình chưa chính xác đâu. Vị ấy từ bỏ tâm nghi ngờ ở đời, sống với tâm thoát li nghi ngờ, gọt rửa tâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp. Đối với giới luật, đối với thiền định của Phật, đối với trí tuệ của Phật phải gọt rửa hết tâm nghi ngờ, nghĩa là đối với Phật, Pháp, Tăng, Giới đã dạy chúng ta thì chúng ta không được nghi ngờ vì đó là những pháp dạy cho chúng ta được giải thoát, bằng ngược lại khi đã nghi Phật, Pháp, Tăng, Giới thì không bao giờ tu tập được đâu, lúc nào cũng phải nghĩ rằng đức Phật đã làm được, sau đức Phật có những bậc Thánh tăng làm được, trong thời đại này còn có những người khác cũng làm được. Chúng ta phải quét sạch tâm nghi ngờ, do đó, chúng ta rất tin ở Phật, ở thiền định của Phật, ở giới luật của Phật, ở Pháp của Phật, ở trí tuệ của Phật. Chúng ta phải gọt rửa cho hết tâm nghi ngờ đối với Phật Pháp Tăng và Giới luật của Phật. Nhờ gọt rửa hết tâm nghi ngờ đối với các pháp nên lòng từ bi lân mẫn của chúng ta đối với chúng sanh với tâm từ bi hỉ xả vô bờ bến biến mãn phủ trùm tất cả sanh linh vạn vật mười phương. Đây là giới đức thứ chín của vị ấy trong giới luật của đức Phật.

Khi chúng ta thực hiện được năm giới đức như vậy là chúng ta đã quét sạch năm triền cái tức là tham, sân, si, mạn, nghi, thì chúng ta có được năm giới đức mà 5 giới đức này nằm trong giới luật của đức Phật. Vị tỳ kheo nào sống ngược lại 5 giới đức này là trùng trong lông sư tử, phá hoại Phật pháp, làm cho Phật pháp mất gốc, làm cho đèn Phật pháp bị tắt mất. Nghĩa là đến giai đoạn này, người tu sĩ phải xả cho được năm triền cái, bằng không thì người tu sĩ đó là trùng trong lông sư tử, vị này đã làm cho Phật pháp mất gốc, làm cho đèn Phật pháp bị tắt mất. Người này tự mình quán năm triền cái, xả li đoạn diệt nó giống như người mắc nợ đã trả xong, giống như người bị tù được trả tự do, giống như người nô lệ được hết cảnh nô lệ, giống như người đi trong sa mạc mà ra khỏi sa mạc, giống như người bị bịnh mà hết bịnh. Nghĩa là chúng ta tu 5 giới đức này xong cũng giống như người đã trả xong nợ, bị tù được trả tự do, không còn làm nô lệ, qua khỏi sa mạc, hết bị bịnh, thì vui mừng sung sướng không thể nói hết được. Người đã đoạn diệt 5 triền cái này cũng có sự hân hoan vui mừng sung sướng như vậy.

Khi vị tỳ kheo quán tự thân đã xả li 5 triền cái thì vui mừng hân hoan sinh; do hân hoan nên hỉ sinh; do hỉ sinh nên tâm hân hoan sinh; do hân hoan sinh thì thân được khinh an; do thân được khinh an thì lạc thọ sinh; do lạc thọ sinh thì tâm được định tỉnh. Bây giờ ngồi lại vị ấy có trạng thái Sơ thiền, nghĩa là lúc nào cũng cảm giác thanh thản. Một người chưa xả li 5 triền cái thì chưa thể có trạng thái khinh an hỉ lạc này thực sự. Muốn bỏ 5 triền cái thì chúng ta phải tu tập hết sức trong việc giữ giới hạnh, giới đức cho tới khi ngồi suốt cả ngày không có một niệm trong đầu, luôn luôn an ổn vô cùng khi đó mới tu tập thêm để nhập Sơ thiền.

Trải qua bao nhiêu chặng đường tu tập nên mới có sức tỉnh, trải qua bao nhiêu thứ luyện tập vô lậu cho nên mới quét sạch 5 triền cái để được định tâm. Khi đã được định tâm và hợp với tỉnh giác mới được tâm định tỉnh, và khi tâm được định tỉnh thì vị tỳ kheo này mới sống độc cư, sống trầm lặng một mình nơi hoang vắng. Đó là lúc vị tỳ kheo li dục li ác pháp. Khi đã li dục li ác pháp thì chứng và trú thiền thứ nhất một trạng thái hỉ lạc sanh với tầm với tứ. Vị tỳ kheo thấm nhuần tẩm ướt làm cho sung mãn tràn đầy khắp thân mình với hỉ lạc do li dục sanh trên toàn thân.

Quý thầy thấy con đường tu của đạo Phật thật là tuyệt vời mà chúng ta thực hiện từng bước mới đi tới được, chứ không phải vừa vào lo ngồi hít thở để cho li dục li bất thiện pháp, rồi ức chế tâm cho hết tầm để nhập Sơ thiền. Khi quý thầy muốn đi tới Tứ thiền thì là điều quá khó, chắc chắn quý thầy phải dậm chân tại chỗ chứ không vô được.

Giống như một người tắm với xà bong, trên thân chỗ nào cũng dính xà bong, không chỗ nào không dính. Đó là ví dụ của đức Phật, sự hỉ lạc dính khắp cùng thân của người đó do người đó li dục nên hỉ lạc đó thấm nhuần toàn thân của họ. Đây là giới đức thứ mười trong giới luật của đức Phật. Chỗ nào trên toàn thân của họ cũng thấm nhuần bằng đức giới li dục li ác pháp. Nhưng như vậy chưa đạt được chấm dứt sanh tử luân hồi, mà còn phải trải qua thời gian tu tập nữa mới hết sanh tử. Tới chỗ sơ thiền chưa thành tựu giải thoát được đâu, cho nên có người lầm tưởng tới chỗ sơ thiền này là thiền tối thượng hoặc như bên Đại Thừa do chỗ li dục li bất thiện pháp này cho là thiền không xuất không nhập, do đó họ diệu dụng thần thông đủ cách, từ đó tri kiến giải thoát của họ, tất cả trí tuệ của họ phát sanh, từ chỗ đó họ cho đó là kết quả cuối cùng của họ, họ đã thành Phật, đã giác ngộ. Họ thấy trạng thái hỉ lạc này cho nên họ xây dựng bốn đức niết bàn, thường lạc ngã tịnh, là cứu cánh cuối cùng của họ, nhưng không ngờ đó chỉ mới là trạng thái li dục li bất thiện pháp, nền tảng của 4 thiền của đạo Phật mà thôi. Đạo Phật không chấp nhận thường lạc ngã tịnh mà chỉ chấp nhận tâm bất động giải thoát, vì thường lạc ngã tịnh chỉ là cái lạc của li dục, còn có những hỉ lạc cao hơn nữa chứ không phải ở đó, đây chỉ là mới bắt đầu của đạo thôi. Đó là kết quả thiết thực hiện tại đức hạnh của người tu sĩ, nghĩa là giới đức mà chúng ta tu tập được thì tới đây chúng ta mới nếm được mùi vị hỉ lạc của đạo.

Bây giờ vị tỳ kheo với tâm định tỉnh tràn đầy hỉ lạc do li dục li ác pháp sanh tâm rất thanh tịnh, vị ấy hướng tịnh chỉ tầm và tứ, nghĩa là vị ấy dùng pháp hướng tâm nhắc tịnh chỉ tầm tứ, do đó tầm tứ dừng lại, không có ý gì khởi ra được hết, chứng và trú thiền thứ hai một trạng thái hỉ lạc do định sanh không tầm không tứ nội tỉnh nhất tâm thấm nhuần tẩm ướt làm cho sung mãn tràn đầy thân mình với hỉ lạc do định sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không có hỉ lạc thấm nhuần.

Trước kia là hỉ lạc do li dục sanh còn bây giờ do chỗ mình diệt tầm tứ với tâm thấm nhuần nội tỉnh nhất tâm, cái tâm của mình bây giờ tỉnh táo lắm, nó tỉnh thức vô cùng, tỉnh hơn hồi nãy khi chúng ta li dục cho nên không một chỗ nào trong thân ta mà tâm không biết, bởi nội tỉnh nhất tâm, tức là biết rất rõ bên toàn bộ bên trong thân, tâm không ra bên ngoài, nó tẩm ướt làm sung mãn đầy thân thân bằng hỉ lạc do định sanh không một chỗ nào trên toàn thân mà không có hỉ lạc thấm nhuần. Đây là giới đức thứ mười một trong giới luật của đức Phật. Chỗ nào cũng thấm nhuần thân tâm của họ bằng đức giới li dục li ác pháp thứ hai. Đó là những kết quả thiết thực hiện tại của người tu sĩ mà không có một người nào phủ nhận được.

Bây giờ vị tỳ kheo nội tỉnh nhất tâm thấm nhuần sung mãn tràn đầy thân mình với hỉ lạc do định sanh, vị tỳ kheo ấy tiếp tục trau dồi giới đức lìa xa sáu trạng thái lạc tưởng, sáu trạng thái dục khổ tưởng, sáu trạng thái bất lạc bất khổ tưởng nghĩa là lúc đó vị này phải lìa xa trạng thái của sáu lạc tưởng, sáu khổ tưởng và sáu bất lạc bất khổ tưởng, mà trong Phật dạy "li hỉ trú xả chứng và trú thiền thứ ba mà các bậc thánh gọi là xả niệm lạc trú". Ở đây Thầy giải thích thêm để quý thầy hiểu được chỗ li hỉ là trạng thái của tất cả dục của tưởng cho nên chúng ta phân biệt sáu trạng thái của dục tưởng, sáu trạng thái của khổ dục tưởng, sáu trạng thái của bất khổ bất lạc dục tưởng, như vậy cọng lại là 18 trạng thái của dục tưởng mà chúng ta phải lìa cho sạch, không được để trong tâm. Lúc đó chúng ta phải trú vào hơi thở như thế nào để chúng ta vượt qua và chỉ khi vượt qua được 18 loại dục tưởng này chúng ta mới nhập được Tam Thiền. Con đường thiền định khó như vậy chứ không dễ. Khi dạy về 4 thiền Thầy sẽ chỉ đường lối cách thức nhập thì các thầy sẽ hiểu rõ ràng hơn, bây giờ chúng ta chỉ hiểu để biết được giới đức của chúng ta khi chúng ta đang ở thiền nào thì thuộc giới đức nào của giới luật đạo Phật mà các bậc thánh gọi là xả niệm lạc trú tâm vị ấy luôn chánh niệm thấm nhuần tẩm ướt. Ở đây Phật vẫn nói chánh niệm tỉnh giác vậy thì ở đây niệm nào? Vì nếu không chánh niệm thì 18 dục tưởng làm mất chánh niệm. Trong Sơ Thiền và Nhị Thiền Phật chỉ nói nội tỉnh nhất tâm mà không nói chánh niệm vì chúng ta bị 18 loại dục tưởng này xen vô thì bị thất niệm rồi. Nếu trạng thái hỉ lạc mà tâm quý thầy bám vào đó là bị thất niệm rồi, bị tà niệm làm mất chánh niệm, tà niệm là của tưởng chứ không phải tà niệm của các pháp thế gian ở ngoài. Phải thấy rõ được trạng thái của định này chúng ta mới biết được đó là chơn chánh là đúng, nếu không biết chỗ này thì làm sao chúng ta li hỉ trú xả được. Nghe nói li hỉ tưởng là nổi mừng của mình hết rồi. Cho nên nhiều người nói sao con đạt được trạng thái đó rồi, mà mất thì con cũng không mừng nữa, người dạy thiền nói lúc đạt được thì mừng, bây giờ luôn luôn có rồi thì còn mừng nữa đâu, giống như ngoài đời có người đi xa về thì lúc đầu mừng nhưng vài ngày sau thì không mừng nữa. Đó chỉ là giải thích theo danh từ, không có kinh nghiệm tu hành, mừng theo kiểu người đi xa về là mừng trong dục chứ không phải li dục, chưa hiểu li dục nên chưa hiểu được điều đó. Những người chưa nhập định mà dạy định thì chỉ nói bậy như vậy: khi được thì mừng, khi hết thì hết mừng. Nhưng ở đây đâu phải vậy. Lộ trình đi từ Nhị Thiền lên Tam Thiền lúc nào cũng phải tỉnh giác để tránh 18 trạng thái của tưởng. Có khi làm cho chúng ta ngở là chúng ta nhập Tam Thiền khi chúng ta trong trạng thái bất thọ lạc bất thọ khổ của dục tưởng nhưng không ngờ là chúng ta bị lọt trong tưởng, cho nên không nhập Tứ Thiền được. Đây là giới đức thứ mười hai trong giới luật của đức Phật chỗ nào tâm của vị ấy cũng tỉnh thức ở trong chánh niệm của giới đức này, không bị mất, không bị lặn, không động, không loạn, nó thấm nhuần tẩm ướt làm cho sung mãn tràn đầy với lạc thọ hoàn toàn không có trạng thái của 18 loại dục hỉ. Thân tâm của vị ấy bây giờ thấm nhuần với lạc thọ của đức giới thứ mười hai.

Khi nhập tới Tam Thiền rồi thì phải li các pháp dục tưởng thứ ba tức giai đoạn thứ ba của Thiền Thứ Ba phải li các loại tưởng đó ra cho sạch thì mới có kết quả thiết thực hiện tại đức hạnh của người tu sĩ mà không có người nào phủ nhận được; mình còn đang ở trong dục tưởng thì người ta sẽ bác mình, nghĩa là quý thầy nói tới đó như vậy như vậy thì Thầy biết nói sai, Thầy sẽ bác liền, chỉ người không biết thì họ mới tán đồng với quý thầy. Ở đây quý thầy trình ra thì Thầy biết quý thầy đang ở chỗ nào, nhưng mà Thầy chỉ sách tấn quý thầy từ từ ở trong chỗ tu đó mà tự sửa lần lần cho đúng, chứ nếu Thầy bác ngay thì quý thầy chới với vì quý thầy đã bị mất căn bản cho nên Thầy khuyên quý thầy phải tu cái gì nhiều, từ đó quý thầy mới có căn bản để vượt qua. Thầy là một người tâm lí nên tuần tự sửa lần cho quý thầy vượt qua các thiếu sót và sai lầm thâm nhiễm chứ không gây cho quý thầy có sự bất mản trong con đường tu của mình. Thầy không dám nói đúng sai của pháp khác, ai tu sao cũng không nói sai đúng chỉ âm thầm sửa lần cho người đã về bên Thầy tu để chuyển lần cho có căn bản.

Cũng như hồ sen, sen xanh, sen hồng, sen trắng, sen đỏ, sen vàng, những bông sen đó sanh trong nước, sống trong nước, lớn lên trong nước, nuôi sống trong nước từ đầu ngọn đến gốc rể đều thấm nhuần tẩm ướt tràn đầy, thấu suốt bởi nước mát lạnh ấy, không một chỗ nào trên toàn thân sen không được nước mát lạnh thấm nhuần. Cũng vậy, vị tỳ kheo thấm nhuần đức giới của đức Phật toàn thân với lạc thọ. Nghĩa là đức giới thứ ba của con đường Tam Thiền này tràn đầy lạc thọ, đức giới đó làm cho họ có hạnh phúc rất an ổn trong chỗ giải thoát của họ, làm cho họ thấy thực sự con đường giải thoát của đạo Phật, do đó sách tấn họ, khích lệ họ, khiến họ ham tu nữa chứkhông bất mản trong sự tu tập. Bây giờ vị tỳ kheo thấm nhuần đức giới thứ 12 tâm thường tỉnh thức chánh niệm ở trong giới đức này không mất, không lặn, không động, không loạn; vị tỳ kheo tịnh chỉ hơi thở và các hành về hơi thở chứng và an trú Thiền thứ Tư không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Lúc bấy giờ vị tỳ kheo ấy thấm nhuần toàn thân mình với tâm thuần tịnh đức giới trong sáng. Ở đây đức Phật không nói chánh niệm mà nói đức giới trong sáng vì không còn sợ có tà niệm nữa cho nên nó luôn luôn trong sáng.

Cái chánh niệm khi đang ở Tam Thiền (li hỉ trú xả chánh niệm tỉnh giác) để xả 18 loại hỉ tưởng chính là niệm thanh tịnh do giữ chánh niệm thanh tịnh để không bị tà niệm xen vào, vì vậy khi đến Tứ Thiền thì niệm thanh tịnh cũng xả đi, chỉ còn một tâm trong sáng. Cho nên lúc đó ngồi thiền không thấy lạc mà cũng không thấy khổ, mà niệm thanh tịnh cũng không còn vì đâu cần giữ chánh niệm nữa, tà niệm đâu có, Tứ Thiền đâu còn tà niệm nữa, cho nên không còn giữ chánh niệm vì vậy mà toàn bộ là tâm trong sáng, cho nên đức Phật gọi là xả niệm thanh tịnh. Trong sáng nhưng còn tỉnh thức chứng và trú vào Thiền Thứ Tư không khổ không lạc xả niệm thanh tịnh. Lúc bấy giờ vị tỳ kheo thấm nhuần thân mình với tâm thuần tịnh đức giới trong sáng. Niệm ác không còn thì niệm thanh tịnh cũng phải xả cho nên tâm được thuần tịnh, mà khi xả niệm thanh tịnh rồi thì toàn thân mình thấm nhuần với đức giới trong sáng, nghĩa là sáng suốt vô cùng, mỗi mỗi điều trong thân đều sáng suốt. Vô Tứ Thiền rất tỉnh, cho nên đức Phật ngồi nhập Tứ Thiền không nghe tiếng động, trời sét không nghe, hoàn toàn không có cảm thọ gì hết.

Ở đây Thầy nói "Thuần tịnh đức giới trong sáng" còn trong kinh thì chỉ viết "Thuần tịnh trong sáng" không có đức giới, nhưng ở đây chúng ta học giới luật nên biết đó là đức giới của Tứ Thiền nên viết "Thuần tịnh đức giới trong sáng" cho đúng nghĩa giới luật, vì chúng ta ở trong đức giới nên nó phải trong sáng của giới đức đó. Không một chỗ nào trên toàn thân không được tâm thuần tịnh trong sáng ấy thấm nhuần đức giớicủa Tứ Thiền. Ví như một người ngồi dùng tấm vải trắng trùm đầu không một chỗ nào trên toàn thân mà không được tấm vải trắng ấy che phủ. Phật ví dụ như khi chúng ta ngồi và lấy tấm vải trắng phủ trùm thì người ngoài chỉ thấy một khối trắng chứ không thấy bất kỳ phần nào của người ngồi bên trong thì tâm trong sáng của chúng ta sáng suốt cũng như tấm vải trắng, cũng như cái hồ nước trong vắt chúng ta đứng nhìn thấy mọi vật ở đáy hồ một cách rõ ràng, vì vậy chúng ta mới hướng tâm đến Tam Minh thì thấy hết. Tam Minh ví như đá sỏi cát hay cá bơi lội ở đáy hồ. Cái tâm trong sáng của Tứ Thiền như tấm vải trắng phủ trùm không thể nào người ngoài thấy chúng ta được, đó là cái tâm trong sạch, bây giờ chúng ta chỉ cần dẫn nó tới đâu chúng ta muốn gì thì nó làm được hết. Tu đến chỗ này quý thầy mới thấy thật là tuyệt vời.

Người ta không biết nên gọi bốn thiền này là thiền tiểu thừa, thiền tiêu nha bại chủng,... họ không ngờ tâm chúng ta trong sáng thuần tịnh đến mức chúng ta thấy sỏi đá tới đáy hồ, chúng ta thấy các loài thủy tộc đang bơi lội trong đó cho tới đáy hồ, tức là tâm chúng ta thanh tịnh toàn bộ trong giới đức này. Đây là giới đức thứ 13 trong giới luật của đức Phật chỗ nào tâm của vị ấy cũng thuần tịnh trong sáng thấm nhuần li dục. Quý thầy thấy li dục li bất thiện pháp, li dục tưởng pháp, li dục thọ pháp. Bây giờ chúng ta li dục thọ pháp tức là ngưng hết thọ lạc thọ khổ, thọ bất lạc bất khổ. Do đó những kết quả thiết thực hiện tại đức hạnh của người tu sĩ không ai dám phủ nhận được. Chúng ta tu tới đây thấy tâm thuần tịnh trong như nước hồ.

Mười ba phần giới đức trọng yếu trong giới luật của đức Phật mà vị tỳ kheo cần phải trau dồi tu tập không phải trong một sớm một chiều mà thành tựu được, phải kiên gan bền chí, hết sức chuyên cần tu tập, vị tỳ kheo muốn thoát khỏi hầm lửa đỏ rực đang đốt chúng ta từng phút từng giây. Chúng ta há dễ duôi để thời gian qua mất thì có hối tiếc, việc cũng đã muộn rồi. Đời đời kiếp kiếp khó mà lại được gặp thân người, gặp được pháp, gặp được bậc thầy có kinh nghiệm dẫn dắt và điều dẫn cách nhiếp trong thế giới này, nghĩa là quý thầy được pháp, được bậc thầy dạy dỗ có kinh nghiệm, được thân người để tu tập thì đó là điều diễm phúc nhất cho quý thầy ở trong giai đoạn này. Thầy là người có kinh nghiệm mới vạch ra con đường tu này, hầu như bao thề kỷ nay người ta không có vạch ra được con đường này, kinh sách thì nhan nhãn ai cũng đọc được nhưng cách vạch ra không làm cho người ta biết đường đi, không ai biết thiền là gì, chỉ nói bậy bạ không đúng gì ráo, thế mà dẫn cả đám cùng đi thì thử hỏi đi tới đâu. Có bao nhiêu người được nghe pháp này so với bao nhiêu người không được nghe như vậy diễm phúc họ có hay không, họ chấp bao nhiêu tà pháp sai như vậy mà họ cho đó mới đúng. Thời gian tu tập cho họ đâu có gì ích lợi cho họ, đời họ phí bỏ. Cho nên quý thầy đủ phước duyên về đây gặp Thầy và được lời giáo giới luật của Phật như vầy thì quý thầy là những người có phước nhất trong thế gian này.

Giáo án như vầy nhưng liệu ngày sau có đủ duyên kết hợp thành bộ kinh sách cho quý thầy đọc không, mà dù có đọc thì cũng chỉ cho vui thôi. Thí dụ như bây giờ Chánh Đức thu băng như vầy nhưng ra ngoài kia bị chúng ăn cắp đốt bỏ thì thử hỏi có còn được không, hay Thầy để trong thất mà bị lửa cháy sạch thì có ai nói lại lần thứ hai cho quý thầy nghe nữa. Tài sản này mà chúng sanh không đủ phước thì sẽ bị tiêu hũy trong chớp mắt, chúng ta đâu ngờ được chúng ta có phước báu, nhưng chúng sanh còn được phước báu nghe không. Thầy thấy tâm niệm của quý thầy nghe thì hay nhưng chưa biết cái nào tu trước cái nào tu sau, cho nên Thầy sẽ tóm lượt thành một bản đồ để quý thầy biết mà sắp xếp. Người không được nghe toàn bộ bài pháp này thì dù họ có bản đồ cũng không biết gì hết vì họ không biết pháp đó tu như thế nào. Thí dụ Thầy chỉ mới nói "Trau dồi" thì quý thầy biết là "trau dồi Tứ Vô Lượng Tâm" cho nên khi quý thầy có bản đồ mà Thầy sẽ trao rồi về tìm nơi yên ổn tu tập thì quý thầy cũng đi tới kết quả sau cùng.

13 giới đức trong giới luật của đức Phật giúp cho người tu sĩ xa lìa những hỉ lạc của thế gian, viển li từ bỏ những lôi cuốn bởi những thứ hỉ lạc này, thay vào đó bằng thứ hỉ lạc phi dục lạc của thế gian nhờ thế người tu sĩ mới nhận ra được đâu phải cuộc sống thế gian chỉ có dục lạc thế gian là tuyệt đỉnh mà còn có một thứ hỉ lạc cao hơn, tuyệt đỉnh hơn đó là hỉ lạc phi thế gian pháp, là hỉ lạc li dục li ác pháp. Thứ hỉ lạc này sẽ đưa người tu sĩ đến yểm li, li tham, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, niết bàn. Hỉ lạc này là thứ hỉ lạc của các bậc Thánh, không phải kẻ phàm phu mà thọ hưởng được. Hỉ lạc của thế gian thì mọi người đều hưởng được không ít thì nhiều, chứ còn hỉ lạc xuất thế gian chỉ dành cho bậc Thánh chứ không phải dành cho phàm phu. Nếu quý vị tu sĩ không thực hiện để mình trở thành những bậc Thánh thì chắc chắn không thể thọ hưởng các loại hỉ lạc phi thế gian này được.

13 giới đức trong giới luật của đức Phật vượt khỏi tưởng tượng của loài người, vì thế có người giàu tưởng tượng biến cảnh giới của các bậc thánh hiền thành cảnh giới cực lạc, hiện nay mọi người dựa vào kinh điển tưởng ra, biến cõi Phật thành cõi dục lạc tuyệt đỉnh như các kinh điển đã diễn đạt thành một thế giới hảo huyền hư vô,không có thật. 13 giới đức trong giới luật của đức Phật là một cảnh giới thực tế cụ thể ở trạng thái tâm hồn của hành giả khi họ đã chắc chắn từ giả, từ biệt, xa lánh, li dục li bất thiện pháp ở thế gian thì họ nhận ra được hỉ lạc này, như một người từ lâu nghe người khác khen ngợi một loại bánh đặc biệt ở thế gian này chưa từng có và người thế gian chưa có ai từng nếm được nên họ tưởng tượng ra cái ngon của bánh này. Có kẻ bảo ngon như thế này, có kẻ bảo ngon như thế khác, nhưng chẳng có ai được ăn, được nếm mà chỉ có những bậc thánh tu hành đúng pháp mới biết được mùi vị của nó. Do thế người đã có ăn, có nếm được loại bánh này khi nghe người khác nói ngon như thế này, nói ngọt như thế khác thì biết người ấy chưa bao giờ được ăn được nếm nó. Người đã ăn đó dạy cho người kia phải từ bỏ cái này, trau dồi cái kia thì quý vị sẽ vứt bỏ những hỉ lạc ngon ngọt của thế gian thường tình xong thì mới có thể nếm được hỉ lạc xuất thế gian, lúc bấy giờ quý vị mới rõ đạo Phật, chứ không phải con đường tu hành theo đạo Phật khô cằn khô cổi như bải sa mạc toàn cát nóng bức khó chịu.

Đó là đứng núi này mà muốn biết núi khác thì không thể nào biết được, như con cá ở trong nước làm sao biết được sự sống trên đất bằng cho nên con người sống thường tưởng sai, thậm chí ngay chính trong thân tâm của họ họ còn không hiểu hết thì làm sao hiểu được cảnh giới của các bậc thánh hiền. Như vậy quý thầy muốn hưởng được hỉ lạc xuất thế gian của bậc xuất gia thì phải dứt bỏ hỉ lạc của thế gian, nếu không dứt bỏ thì không thể nào hưởng được hỉ lạc của pháp xuất thế gian được, vì các hỉ lạc của thế gian là hỉ lạc dục, nên phải li ra. Hỉ lạc dục của thế gian không còn nữa thì hỉ lạc xuất thế gian mới có. Nếu chúng ta còn ôm ấp cái dục lạc thế gian thì làm sao chúng ta biết mùi vị của pháp xuất thế gian được. Cho nên quý thầy ngồi thiền nhập định mà có trạng thái hỉ lạc khinh an đều bị sai hết, bởi vì tâm mình còn dính mắc cái này cái kia. Dù là một vị tu sĩ vẫn còn dính cái chùa, cho nên các cảm nhận trạng thái hỉ lạc khinh an đều là dục lạc chứ không phải hỉ lạc. Bởi vậy khi tu hành chúng ta phải biết hỉ lạc nào là chơn chánh, hỉ lạc nào không chơn chánh; cái hỉ lạc đem lại cho ta muôn thứ khổ là hỉ lạc dục, còn hỉ lạc đem chúng ta yểm li xa lánh các sự ham muốn, lôi cuốn của thế gian, làm chúng ta xa lìa các khổ đau đó, thì đó là hỉ lạc của pháp xuất thế gian. Muốn nếm mùi vị của nó thì chúng ta phải tách lìa, xa lìa các dục lạc thế gian. Vì vậy, chúng ta phải biết được hai lộ trình mà đức Phật vạch ra rất rõ ràng. Nếu chúng ta không thấy rõ hai lộ trình này thì chắc chắn chúng ta không đạt được kết quả tu hành theo đạo Phật. Lộ trình theo đạo Phật là xuất thế gian, li tất cả các dục, các ác pháp của thế gian thì chúng ta mới thực hiện được hỉ lạc của pháp xuất thế gian, không có nghĩa là con đường đi tu theo đạo Phật khô cằn khô cổi.

Bây giờ chúng ta muốn sống cũng không thể được, muốn chết cũng không thể được đó là chúng ta không có quyền. Còn khi một người li được các dục lạc thế gian này thì người đó có quyền sống chết theo ý của người đó, hay muốn người lớn thì lớn, muốn người nhỏ thì nhỏ, bởi vì khi người ta lìa các dục lạc thế gian rồi thì người ta có sự tự tại như vậy. Khi chúng ta có dục như ý túc, muốn thế nào thì nó phải thành tựu như thế. Cho nên đạo Phật nhắm chỗ li các pháp thế gian thì chúng ta mới đạt được kết quả của sự làm chủ mà sự làm chủ đó không có nghĩa là làm cho hoại diệt, làm cho tiêu diệt con người trên thế gian này mà thể hiện con người càng tốt đẹp, mỗi con người đều có lòng thiện biết chan hòa lòng thương nhau, không biết ganh đua, không biết tị hiềm, không biết tham sân si mạn nghi, không có ngũ triền cái, không có thất kiết sử. Vì vậy chúng ta thấy con đường của đạo Phật là con đường lìa xa sự ham muốn của thế gian. Lìa xa sự ham muốn của thế gian là chúng ta đã đạt được sự giải thoát.

Như Thầy đã dạy trước kia 25 giới hạnh thuộc về thân hành còn 13 giới đức thuộc về tâm hành. Trạng thái tâm hành là gì? Là thiền định. Cho nên thân thuộc về giới hành hay giới hạnh, còn tâm thuộc về giới định. Vậy 13 giới đức tức là 13 định trong giới luật của đạo Phật, cho nên có chỗ Phật nói giới, tâm, tuệ thay vì Phật nói giới, định, tuệ; tâm là giới đức của chúng ta, vì vậy chúng ta hiểu con đường tu của chúng ta chia làm 3 giới rất rõ, mà 3 giới này nằm trong vị trí của tam vô lậu học giới định tuệ. Vậy thì giới hạnh tức là giới bổn Patimokkha, giới đức tức là định và giới tuệ tức là huệ.

Hôm nay quý thầy mới hiểu rõ được giới định tuệ hoàn toàn thuộc về giới chứ không có gì khác hết, nhưng vì vị trí của giới nào có phận sự ở vị trí của nó ở đó làm cho tâm, làm cho hành động chúng ta thanh tịnh, làm cho trí tuệ chúng ta thanh tịnh thì gọi là giới. Cho nên lúc đầu Thầy có giới thiệu Giới làm cho Trí tuệ thanh tịnh mà Trí tuệ làm cho Giới thanh tịnh; ở đâu có trí tuệ thì ở đó có giới luật mà ở đâu có giới luật thì ở đó có trí tuệ. Khi chúng ta có trí ở trong giới hạnh thì hành động hằng ngày của chúng ta phải thanh tịnh, mà hành động hằng ngày được thanh tịnh như vậy thì ở đó phải có trí tuệ. Cũng như giới đức: ở đâu có tâm thanh tịnh thì ở đó phải có trí tuệ, mà có trí tuệ ở đó thì phải có giới đức ở đó. Giới tuệ cũng vậy: ở đâu có trí tuệ thì ở đó có giới tuệ, ở đâu có giới tuệ thì ở đó có trí tuệ.

Quý thầy thấy rõ con đường đi của Phật toàn là những pháp thiện cho nên sơ thiện là giới hạnh, trung thiện là giới đức và hậu thiện là giới tuệ. Đạo Phật là đạo thiện pháp cho nên tất cả đều nằm trong giới, mà giới tức là thiện pháp chứ không phải một pháp môn nào xa lạ. Muốn thực hiện được những điều đó chúng ta có 37 phẩm trợ đạo để thực hiện con đường tu thiện pháp giới định tuệ này. Cho nên phải hiểu giới tâm là thiền định mà thiền định là một cảnh giới thực tại có sự an lạc tuyệt đỉnh thật sự trong cảnh giới đó, sự an lạc đó thực sự có trong tâm hồn chúng ta khi chúng ta thật sự đã li dục. Đức Phật đã xác định điều này qua bài so sánh 4 hỉ lạc của thế gian phàm phu và 4 hỉ lạc xuất thế của bậc thánh. Tiếc rằng kẻ phàm phu tu hành chưa tới nơi tới chốn, cứ tưởng tượng ra hỉ lạc bậc thánh như thế này như thế khác, làm sai con đường tu hành theo đạo Phật, làm cho Phật pháp gần như mất gốc, người tu thời nay hết biết đường tu, đời đạo lẫn lộn, làm Phật giáo giống các tôn giáo khác trên thế gian. Thật rất đau lòng.

Tuy kinh sách gốc của đức Phật còn đó mà người hiểu thì theo tâm dục lạc thế gian của mình nên hiểu sai lệch quá xa. Đâu biết ai là người li được dục lạc thế gian, thọ hưởng được pháp xuất thế gian để hiểu kinh sách li dục lạc thế gian để dẫn chúng ta đi con đường này. Chỉ có những bậc Alahán tức là những bậc có kinh nghiệm tu hành đúng pháp trong giới luật của Phật, sống đúng phạm hạnh (đức hạnh của Phật) thì mới có thể giải liễu pháp của Phật để vạch cho chúng ta con đường tu tập. Chứ cứ theo những nhà nghiên cứu phàm phu tuy có kiến thức học hỏi nhưng làm sao hiểu thấu nghĩa kinh cho thông suốt, họ chỉ tưởng ra thế này, tưởng ra thế khác, làm cho con đường Phật pháp quá xa lạ, làm cho chúng ta chẳng biết đường đi vào để đạt được kết quả giải thoát.

13 giới đức trong giới luật của đức Phật đã xác định thiền định của đạo Phật là giới luật phải nghiêm chỉnh không thể người tu thiền định còn sống trong dục lạc thế gian mà có thiền định được. Ngay từ sơ thiền đã xác định: Li dục li bất thiện pháp nhập sơ thiền. Li dục cho sạch mới có hỉ lạc chớ không phải ngoài giới luật mà đi tìm có được thiền định. Điều này quá rõ ràng. Từ giới luật sanh ra thiền định, nghĩa là từ trong giới hạnh mà có giới đức chứ không phải tự dưng có giới đức. Nếu không có giới hạnh thì không bao giờ có giới đức. Một vị tu sĩ chỉ còn 3 y một bát, chỉ đi xin ăn, không có nghề nào khác, không gia đình, không thân thích, sống với tình thương bao la hết mọi chúng sinh. Có vậy khi thiền định sanh ra tức là giới đức tròn đủ. Giới hạnh được Phật xem là hậu thiện còn giới đức được xem là trung thiện. Vậy quý thầy học đến đây là quý thầy đã được học sơ thiện và trung thiện trong giới luật của đạo Phật.

***