• ttl1
  • tinhtoa1
  • amthat3
  • lailamtoduong1
  • quetsan
  • lopbatchanhdao
  • amthat1
  • thanhanhniem2
  • phattuvandao1
  • phattuvandao3
  • vandao2
  • thanhanhniem3
  • amthat2
  • tamthuphattu
  • chanhungphatgiao
  • thanhanhniem1
  • tinhtoa2
  • ThayTL
  • daytusi
  • vandaptusinh
  • ttl3
  • toduongtuyetson
  • benthayhocdao
  • tranhducphat
  • khatthuc1
  • huongdantusinh
  • Thầy Thông Lạc
  • Thầy Thông Lạc đang ngồi tĩnh tọa
  • Thầy Thông Lạc đi khất thực
  • Thầy Thông Lạc lai lâm tổ đường
  • Thầy Thông Lạc quét dọn sân
  • Am thất
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy "Thân Hành Niệm" cho các Phật tử
  • Phật tử vấn đạo Thầy Thông Lạc
  • Thầy Thông Lạc vấn đáp đạo cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc giảng đạo cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy "Thân Hành Niệm" cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc đi khất thực
  • Thầy Thông Lạc trả lời tâm thư Phật tử
  • Thầy Thông Lạc viết sách
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy "Thân Hành Niệm" cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc đang ngồi tĩnh tọa
  • Thầy Thông Lạc
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy tu sĩ
  • Bên Thầy Thông Lạc học đạo
  • Thầy Thông Lạc tại Hòn Sơn Thánh Tích
  • Tổ đường Tuyết Sơn
  • Bên Thầy Thông Lạc học đạo
  • Tranh đức Phật
  • Thầy Thông Lạc đi khất thực
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy cho các tu sinh
In bài này

Pháp Tu Cư Sĩ - Tứ Vô Lượng Tâm (Bài 1)

Lượt xem: 3039
Share

TRƯỞNG LÃO THÍCH THÔNG LẠC

GIÁO ÁN TU ĐẠO PHẬT


 

II.- PHÁP TU CƯ SĨ

TỨ VÔ LƯỢNG TÂM (Bài 1)

A.- THÀNH PHẦN VÀ HÀNH TƯỚNG CỦA TỨ VÔ LƯỢNG TÂM

Bây giờ Thầy sẽ tiếp tục dạy về trau dồi Tứ Vô Lượng Tâm. Tại sao phải trau dồi nó?

Chánh Đức nói với Thầy: "Thầy cho con cái địa danh mà chưa cho con cái địa chỉ, địa danh thì chúng con biết rồi, nhưng mà địa chỉ chưa có thì làm sao chúng con tới nhà được".

Trong giai đoạn 1 người cư sĩ, bắt đầu khi chúng ta thông hiểu được Phật pháp rồi, thông hiểu được những giáo pháp mà Phật dạy cho người cư sĩ phải tu cái gì. Bây giờ các con đã hiểu cái gì rồi? Các thầy hiểu Thập Thiện, phải không? Thầy đã giảng Thập Thiện rồi thì đó là mình hiểu rồi. Nhưng các con chưa trau dồi, chưa tu tập gì được đâu. Nghe nói Thập Thiện nghĩa là thân không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không vọng ngữ, không uống rượu, v.v... nhưng các con chưa làm được. Nghe thì hiểu chứ chưa làm được đâu. Bây giờ trau dồi để làm cho được.Đây là vấn đề quan trọng, đây là cái địa chỉ để các con đi tới cái nhà Thập Thiện đó.

Bởi vậy, Thầy dạy cho các con biết cách thức để tu tập, chứ không thể nàobất đồ tự dưng nhào vô, ngang xương nhào vô tu tập để chứng thành đạo quả Bồ đề được liền đâu. Phải đi từng chút một, từng bước một. Cái tâm của chúng ta bây giờ đang là cái tâm tham sân si, mà không trau dồi nó thì làm sao nó hết tham sân si. Mà phải trau dồi bằng cách nào, lấy cái gì để trau dồi? Đâu phải hằng ngày mình nhắc nó hết tham, sân, si, rồi tự dưng nó hết tham sân si sao? Không đâu. Mình phải trau dồi cái gì để đối trị cái tâm tham sân si chứ.

Đức Phật nói tâm từ đối trị sân, cho nên, muốn hết sân thì phải trau dồi tâm từ. Bây giờ tâm chưa có từ mà lúc nào cũng nói giữ tâm không sân thì chắc chắn người đó không bao giờ có tâm không sân được. Vậy muốn trau dồi lòng từ của chúng ta thì phải trau dồi như thế nào, chứ đâu phải bảo nó "tâm từ", "tâm từ", "tâm từ", rồi có tâm từ được sao? Không có đâu. Cho nên chúng ta phải hiểu tâm từ trước.

Tâm có giá trị hay không là do ở chỗ rộng hẹp của nó. Muốn tâm có giá trị thì phải trau dồi, tập sống được như tâm Phật, tâm thương chúng sanh rộng lớn vô bờ, vô biên. Đó, mình phải tập sao cái tâm của mình rộng lớn được như vậy, trau dồi cho nó rộng lớn được như vậy thì mình mới thấy cái chỗ dứt ác, thể hiện thiện, thì mới có thểcó được tâm thương yêu rộng lớn. Tâm không thương yêu chúng sanh thì khó có thể dứt ác được. Bởi vì lúc người ta chửi mình, mình có tâm thương yêu rộng lớn thì mình đâu phải là người bình thường kia, cho nên mình mới thấy thương người chửi mình dễ. Nếu mình là người không có tâm thương yêu rộng lớn thì nghe người ta chửi mình, chưa chắc thương người chửi mình được. Nhưng cótu tập lòng từ thì khi người khác chửi mình, mình thương họ được. Có vậy mới là tâm từ đối trịtâm sân.

Cho nên chúng ta phải trau dồi thân tâm chúng ta cho đúng pháp. Hầu hết quý thầy cũng học Tứ Vô Lượng Tâm,chắc chắn quý thầy đã biết tâm từ, nhưng bảo quý thầy thương người chửi thì quý thầy không làm được. Thầy nói như vậy để quý thầy suy ngẫm lại con đường Thầy dẫn dắt quý thầy phải tập luyện từng chút. Tu là phải chịu khó tập luyện chứ đâu phải tu mà Thầy nói ran cổ họng, nhưng quý thầy nghe chơi không trau dồi, thì chắc chắn là Thầy mệt mỏi quá. Quý thầy phải rèn luyện, trui luyện từng chút cái tâm của quý thầy, để cho nó được từ, được bi, được hỷ, được xả. Có như vậy học mới lợi ích cho quý thầy, quý thầy mới giải thoát. Còn nếu Thầy nói để quý thầy nghe thôi thì thiệt là mệt mỏi cho Thầy, nghe để chơi thì thiệt là mệt mỏi cho Thầy. Đó là cái Thầy thấy quá khó, chớ không phải cái khó là biết ai là người nghe Thầy, ai là người không nghe.

Phật đã dạy, khi vào với đạo Phật, điều đầu tiên là người cư sĩ phải thông hiểu. Những gì thì Thầy đã cho quý thầy thông hiểu rồi đó. Những bài giảng trước là đem cho quý thầy sự thông hiểu đó, chứ chưa phải là sự tu tập. Cho nên Chánh Đức nói câu nói rất rõ ràng: "Thầy cho con cái địa danh, chứ chưa cho con cái địa chỉ". Đúng vậy! Mình phải thông hiểu tức là mình phải thông hiểu cái tỉnh đó, nơi đó ra sao, cái địa danh đó là gì, như thế nào... Mình phải thông hiểu tổng quát hết đi, rồi bây giờ bắt đầu cho địa chỉ để đến cái nhà đó.

Đó, như vậy là Thầy đã mở ra một cái vòng để cho quý thầy thông hiểu, rồi tới đây quý thầy sẽ trau dồi, thì tức là đưa ra cái địa chỉ để quý thầy đến nhà. Sau đây là cái địa chỉ chúng ta đi, đó là quý thầy phải trau dồi, rồi tu tập và đoạn dứt ác pháp.

Bây giờ quý thầy phải thông hiểu Tứ Vô Lượng Tâm như thế nào? Bây giờ mình nghe nói Tứ Vô Lượng Tâm, mình không biết tên họ nó là gì hết, không biết nó là sao hết, mình không hiểu nó là cái gì nữa thì như vậy là chỉ cái danh từ suông thôi. Cho nên mình cần phải hiểu thêm nó.

Tứ là bốn; Vô Lượng Tâm là tâm rộng lớn mênh mông, phủ trùm tất cả chúng sanh, không thể lường, không thể tính được. TứVô Lượng Tâm là bốn cái tâm rộng lớn phủ trùm tất cả chúng sanh, không thể tính lường được chỗ nào hết, nghĩa là vô bờ bến. Vô Lượng Tâm là tâm vô cùng rộng lớn, thoát ra khỏi mọi sự ràng buộc các dây mơ rễ má của mọi tâm lý tình cảm, thương ghét, giận hờn, tị hiềm, kiêu căng, nghi ngờ, ngã mạn của phàm phu, phá vỡ tà kiến, thân kiến, chấp kiến trước mọi trí tuệ mê mờ, lầm lạc.

Đó là cái tâm nó như vậy đó. Nó làm cho chúng ta, cái thứ nhất là chúng ta hiểu nó rộng lớn mênh mông; cái thứ hai, nó rộng lớn mà thoát ra ngoài những sự ràng buộc của những sự trói buộc tình cảm của chúng ta, rồi nó thoát ra ngoài những thương ghét giận hờn, tỵ hiềm, kiêu căng, ngã mạn, mà nó còn thoát ra ngoài những tà kiến, thân kiến, chấp kiến trước mọi trí tuệ mê mờ, lầm lạc. Đó, chúng ta trau dồi nó, để chúng ta thấy được, chúng ta thoát ra được, cho nên nó rộng lớn như vậy, nó phải phủ trùm hết. Phải hiểu biết nó rộng lớn cho nên không có một tà kiến, không có một tình cảm nào có thể xen vào Tứ Vô Lượng Tâm này được. Chứ không phải là chúng ta tu Tứ Vô Lượng Tâm mà chúng ta hiểu một cách cạn cợt thì làm sao rộng lớn được như vậy. Cho nên chúng ta càng trau dồi nó, càng ngày càng trau dồi nó thì nó càng rộng lớn và nó càng rộng lớn thì sự hiểu biết của chúng ta càng rộng lớn. Cho nên từ đó chúng ta mới thực hiện được tâm vô ngã, chứ đâu phải là dễ vô ngã. Nếu không có bốn cái tâm này Từ Bi Hỉ Xả, thì chúng ta khó thực hiện được tâm vô ngã.

Vô Lượng Tâm còn có nghĩa là đẳng tâm, là tâm bình đẳng. Tâm này tự nhiên, không so đo, cao thấp, hơn kém, phổ biến, ban rải mọi nơi, mọi chỗ, không giới hạn. Nghĩa là cái tâm bình đẳng không thấy có người hơn mình, không thấy mình hơn người, người nào cũng bình đẳng hết, từ con vật nhỏ tí ti cũng bình đẳng với mình, nghĩa là xem nó như mình chớ không thấy nó là con vật nhỏ.

Còn chúng ta thì thấy có lớn, có nhỏ, đối xử với nhau nghe có khác lạ. Thấy con kiến thì mình đối xử như một con vật, chớ còn người mà tâm vô lượng này thì họ đối xử con vật như chính đối xử với một con người khác. Đó là những định nghĩa để chúng ta thấy được tâm vô lượng rộng lớn như vậy, nó vượt thoát mọi tà kiến, chớ không phải hẹp hòi ở trong chữ ban rải đối với chúng ta thương yêu một cách cạn cợt. Khi hiểu biết được như vậy thì chúng ta hãy cố gắng trau dồi nó, làm cho nó được rộng lớn như vậy.

Do trau dồi tâm bình đẳng này làm lợi ích cho vô lượng chúng sanh thoát khổ, nên tâm này có công năng mang đến cho con người vô lượng phước báu. Nghĩa là trau dồi tâm bình đẳng này thì không bao giờ làm phiền lòng người nào hết, bởi vì mình biết ai cũng như mình hết, mình biết ai cũng thọ khổ như mình hết cho nên trước cái khổ của họ thì mình dùng tâm bi liền tức khắc. Người ta đang tức giận mình, thì ngay đó là tâm bi mình phải thực hiện liền. Như Thầy đã dạy, tâm từ là khi người ta bình thường, người ta không giận, không hờn gì hết thì tâm từ của mình đối xử mọi người rất là kính trọng họ, rất là cung kính họ, luôn luôn không bao giờ nói một lời nặng với họ, đó là tâm từ. Còn tâm bi là khi thấy người ta giận thì ngay đó biết người ta đang khổ, do đó mình thực hiện tâm bi là trước cái khổ của người khác, một người đang bị bệnh, một người đang bị tai nạn thì mình mới dùng tâm bi. Tới cái chỗ đó Thầy sẽ dạy rất kĩ cho quý thầy thấy để chúng ta trau dồi tâm bi như thế nào, mà trau dồi tâm từ như thế nào.

Nếu Tứ Vô Lượng Tâm này, cái tâm bình đẳng này mà chúng ta đã trau dồi được thì thế giới này, con người này hưởng hạnh phúc, an vui, thanh bình, không bao giờ có chiến tranh, không bao giờ có giặc giã hết. Bởi vì, từ con vật mà chúng ta còn biết thương y như mình thì thử hỏi con người làm sao chúng ta không thương? Con người đã thông cảm những nỗi khổ của nhau trong cuộc sống, có đâu lại tranh giành giết nhau. Cho nên tâm từ biến chúng ta trở thành một con người chung của mọi người. Bốn tâm vô lượng này không những làm lợi ích cho chúng sanh an lành, hạnh phúc mà còn ban rải cho mọi nhà, mọi nước và cả thế giới trật tự, an ninh, thanh bình, không chiến tranh.

Vô lượng ở đây quý thầy phải hiểu nó bao hàm nhiều nghĩa chứ không phải như hồi nãy Thầy nói tổng quát, chung chung để cho quý thầy thấy cái vô lượng của nó. Nhưng ở đây chúng ta phải phân ra để thấy được từ vô lượng có mấy nghĩa bao hàm sau:

1. Vô lượng nhân lành: đem lại nhân lành cho mọi người, không làm cho ai bị nhân ác nào. Chẳng hạn một người chửi Thầy, Thầy nhịn, Thầy nhẫn, Thầy không bao giờ chửi lại họ, mà Thầy còn xuống nước năn nỉ họ, làm cho họ mát lòng, mát dạ, tức là gieo cái nhân lành cho họ, họ không còn chửi Thầy nữa. Đó là vô lượng nhân lành. Còn nếu nghe người ta chửi mình mà mình chửi lại, đó là cái nhân ác, nó tiếp tục cái nhân ác khác nữa.

2. Vô lượng quả đẹp: Nghĩa là đem đến cho cuộc sống của chúng ta luôn luôn đẹp đẽ, không bao giờ có sự phiền toái trong đó, cho nên gọi là vô lượng quả đẹp. Vô Lượng Tâm đến đâu thì đem cái đẹp đẽ đến đó, cái an vui đến đó.

3. Vô lượng chúng sanh: đối với chúng sanh nào cũng được an lành, cũng được đẹp đẽ hết chứ không phải riêng có con người thôi, mà có cả loài vật. Thầy ví dụ, như chúng ta có những y áo bị một bầy kiến vào; chúng ta thực hiện tâm từ thì không bao giờ chúng ta làm thương tổn đến sinh mạng của con kiến. Chúng ta nghĩ tiếc bộ quần áo, y áo của mình, đem mà đập, giũ thì biết bao nhiêu con vật chết. Như vậy là quý thầy không có trau dồi tâm từ. Loài vật biết trời mưa, trời gió mới vô đó để nó nằm, nó ẩn núp ẩn mưa, ẩn gió lạnh. Chúng ta không có thương, không nghĩ đến cảnh khổ của loài vật. Giả dụbây giờ như mình ở ngoài trời trong khi trời mưa trời gió chúng ta có chịu nổi không? Thì con kiến nhỏ nhít hơn, nó lạnh lẽo nên nó trốn, nó sợ nước trôi chết đi, nó quá sợ, nó vô nhà chúng ta. Nếu chúng ta không muốn nó vào núp trong y áo, vào trong nhà thì chúng ta tìm cách ngăn ngừa nó trước đi, nó không vô, nó đi chỗ khác lánh thân. Đằng này để cho nó bò ngập nhà mình, rồi quét, rồi đùa, rồi hốt, rồi đốt, rồi giải thì thử hỏi tâm từ của chúng ta chỗ nào, như vậy có đau khổ chúng sanh không? Như vậy là không có vô lượng chúng sanh được.

4. Vô lượng thế giới: nghĩa là tất cả thế giới, không phải trong cái thế giới của chúng ta không mà cả thế giới trùng trùng điệp điệp trong không gian này. Thế giới nào chúng ta cũng phủ trùm hết.

5. Vô lượng đời kiếp: nghĩa là từ kiếp này đến kiếp khác, tức là nói về không gian thì vô lượng thế giới, mà nói về thời gian thì vô lượng đời kiếp. Nghĩa là kiếp nào, đời nào nó cũng đẹp đẽ, cũng tốt đẹp, đem đến cho mọi người, mọi sinh vật ở trên thế giới này đều được an lành, đều được tốt.

Đó là năm điều rộng đẹp như vậy bao hàm trong nghĩa của vô lượng.

Bây giờ Thầy nói về thành phần của bốn cái tâm vô lượng này. Thành phần và hành tướng của bốn tâm vô lượng là:

1. Từ vô lượng

2. Bi vô lượng

3. Hỷ vô lượng

4. Xả vô lượng

B.- TRAU DỒI TÂM TỪ VÔ LƯỢNG

Tâm Tâm Từ Vô Lượng là gì? Tâm Tâm Từ Vô Lượng là lòng mến thương của chúng ta vô cùng vô tận đối với tất cả chúng sanh, từ cây cỏ thảo mộc cho đến loài động vật. Dù con vật hung dữ chúng ta cũng ban rải lòng từ, tránh vô tình gây đau khổ cho chúng sanh; thương mến, đem lại cho chúng sanh cái vui chân thật, cái vui mà do chính lòng từ mang đến, làm cho vạn vật vui mừng, cỏ cây tươi tốt, trong đó có mình.

Ở đây Thầy giới thiệu về Tâm Từ Vô Lượng là nó gần gũi, hồi nãy thì nó bao la mênh mông, lần lần nó đi gần tới cái chỗ hạn hẹp, gần chúng ta thì chúng ta phải thấy cái lòng thương của chúng ta như thế nào.

Đây là cái phần hạn hẹp đối với cỏ cây, cho nên đức Phật đi không có đạp lên cỏ nữa, đó là cái hành của Phật ngày xưa, thân hành của Phật đi không có giẫm đạp lên cỏ, tránh cỏ, sợ nó bị giẫm đạp nó dập, nó héo úa mà thương xót nó đến như vậy. Đó là cái hành của Phật đối với loài thảo mộc, còn chúng ta thì không như vậy. Cho nên ông Phật ông chấp nhận là theo đạo ổng thì lấy cái nghề đi xin ăn, không có làm hại một con vật, một cây cỏ nào hết. Còn chúng ta thì đụng đâu bứt bỏ hết, nghĩa là bứt đầu nó hết, nhổ luôn cả rễ nữa chứ đừng nói. Còn ông Phật thì không dám đạp lên, còn chúng ta thì đạp bừa lên hết, chỉ miễn là mình sạch sẽ thôi. Thật sự ra thì mình nghĩ rằng mình tu tập chứ chưa giống ông Phật chút nào hết, mình còn xa ông Phật lắm. Ông Phật tổ chức giáo đoàn của ông ta cũng vậy, khuyên lơn đừng có thế, thậm chí món ăn thừa thì ông cũng không cho bỏ ở trên cỏ nữa, sợ cỏ vì cái chất mặn sẽ héo úa đi, bỏ ngoài đất trống; thì đủ biết lòng từ của đức Phật như thế nào rồi. Do theo đạo Phật, chúng ta hãy cố gắng mà thực hiện cái Tâm Từ Vô Lượng này.

Nói về lòng từ thì chúng ta phải phân biệt được cái vui này. Trong đời sống chúng ta có hai cái vui:

1. Cái vui bền bỉ chân thật.

2. Cái vui ngắn ngủi, giả tạm.

Như Phật đã dạy, là làm sao cho người vui mà mình cũng vui và tất cả sanh linh, cỏ cây đều vui tươi. Đó là cái vui lâu dài, chân thật. Đó là cái tâm từ, bi, hỷ, xả của chúng ta ban rải khắp muôn loài vạn vật. Cái vui đó bền bỉ, không bao giờ biến hoại, dù trước bất cứ cảnh nào cũng ban rải lòng từ khắp nơi. Vì thế mà sự vui kia mới được lâu dài. Hôm nay quý thầy nhận ra được cái vui mà cái vui lâu dài và cái vui không lâu dài. Rồi cái vui không lâu dài thì chắc các thầy tưởng tượng ra cũng được rồi. Thầy chưa giải thích nhưng các thầy cũng sẽ hiểu được rồi, chớ không khó gì.

Trong đời sống của chúng ta có hai cái vui. Cái vui thứ nhất là cái vui bền bỉ chân thật. Và cái vui thứ hai là cái vui ngắn ngủi giả tạm. Như Phật đã dạy là làm sao cho người vui mình vui và tất cả chúng sanh cỏ cây đều vui tươi. Đó là cái vui lâu dài chân thật. Đó là cái tâm từ bi hỷ xả của chính chúng ta ban rải khắp muôn loài vạn vật. Cái vui đó là cái vui bền bỉ lâu dài không bao giờ biến hoại, dù trước bất cứ cảnh nào cũng ban lòng từ rải khắp nơi. Vì thế mà sự vui kia mới lâu dài.

Còn cái vui ngắn ngủi, giả tạm, là cái vui còn bị phiền não chi phối, khi tham sân si mạn nghi đòi hỏi được thì thỏa mãn, thì vui, còn ngược lại thì buồn khổ. Cái vui này là vui theo dục lạc, được thì vui, mất thì buồn. Như chúng ta đã biết, dục lạc không bao giờ có thể thỏa mãn được hoàn toàn. Phật dạy: Kẻ ngu si, vô minh mới chạy theo vui dục lạc, nó là thứ dục lạc ảo giác, đâu có thật, chỉ có người trí mới biết mà thôi. Bởi vậy, cả hai lộ trình của Đạo Phật mà Thầy đã dẫn dắt chỉ cho các thầy biết để tu tập trên hai lộ trình này là tìm cái vui chân thật, nơi đó bền lâu, thoát ra ngoài vòng phiền não tham, sân, si, mạn, nghi và không bị dục lạc chi phối. Nó không ồn náo sôi nổi, ầm ĩ. Nó nhẹ nhàng, thầm lặng như một bóng, một hình trong cái vui của cảnh giới siêu phàm giải thoát nhưng lại hòa mình trong vạn hữu của vũ trụ. Cái vui bất tuyệt của vạn pháp, cô đơn mà lại không cô đơn.

Ở đây, quý thầy thấy mình phải chọn cái vui nào là thật, mà tránh cái vui giả, vì Tứ Vô Lượng Tâm là tâm từ bi hỷ xả của chúng ta đem đến cho chúng sanh nguồn vui. Mà nguồn vui ở đây có hai nguồn vui: nguồn vui chân thật và nguồn vui không chân thật. Cho nên chúng ta phải biết nguồn vui nào không chân thật và nguồn vui nào chân thật. Vì vậy phải so sánh hai nguồn vui này để chúng ta tránh nguồn vui không chân thật, mà hãy tìm nguồn vui chân thật để chúng ta thực hiện cái Tứ Vô Lượng Tâm này, để đạt được nguồn vui chân thật đó. Nếu không có 4 tâm vô lượng này thì không bao giờ chúng ta tìm ra được nguồn vui chân thật đó. Do vì vậy, muốn tìm được nguồn vui chân thật thì quý thầy phải hằng ngày trau dồi thân và tâm của mình trong ba hành động của nó. Nghĩa là thân hành, khẩu hành và ý hành. Hằng ngày trau dồi 3 hành động của thân chúng ta như vậy thì chúng ta sẽ có được một nguồn vui chân thật và tâm thương yêu của chúng ta càng lúc càng rộng lớn.

Muốn được vậy thì chúng ta, người cư sĩ cũng như người tu sĩ, phải hằng ngày trau dồi thân tâm mình bằng pháp môn Tứ Vô Lượng Tâm như Thầy đã nói ở trên. Vậy trau dồi như thế nào?

Trong thân ta có ba hành: một là thân hành, hai là khẩu hành, ba là ý hành.

1. Thân hành có hai: một là chân hành, hai là tay hành.

2. Khẩu hành có hai: một là ăn, hai là nói.

3. Ý hành có ba: một là ý thiện, hai là ý ác, ba là ý bất thiện bất ác.

1.- Trau dồi Từ tâm nơi thân hành

Ở đây quý thầy khi muốn trau dồi nó thì quý thầy biết trau dồi chỗ nào? Cho nên ở đây Thầy vạch ra để cho quý thầy thấy chúng ta phải trau dồi trong những hành động để nó thực hiện được tâm từ bi hỷ xả ở nơi ba hành động đó. Mà mỗi hành động thì nó phải có những hành động riêng của nó như chân mình đi, tay mình thì cầm nắm bắt. Phải theo hành động đó mà trau dồi tâm từ bi hỉ xả của mình ở tại hành động đó.

Còn về khẩu (về miệng) thì cũng có hai hành. Một là hành ăn, hai là hành nói. Như vậy thì chúng ta phải trau dồi cái ăn và cái nói của mình. Chứ nếu không, nói ra thì làm buồn khổ người, mà ăn không đúng cách thì nó làm hại thân mình. Cho nên tất cả những cái này đều làm cho chúng ta buồn khổ, không vui được.

Về ý hành thì có 3, nó nhiều hơn hai cái hành kia. Nó có cái thiện, cái ác và cái bất thiện bất ác.

Cho nên chúng ta phải trau dồi, và lấy Tứ Vô Lượng Tâm trau dồi ba cái hành động của thân để cho chúng ta thực hiện được cái tâm vui mừng, cái tâm rộng lớn, cái tâm biết thương yêu, cái tâm biết thương xót tất cả mọi loài.

Bây giờ quý thầy bắt đầu trau dồi Từ tâm nơi thân hành của mình, nghĩa là bắt đầu vô mình trau dồi liền. Trước kia Thầy giới thiệu cho quý thầy biết Tứ Vô Lượng Tâm như thế nào, rồi bây giờ chia nó làm hai cái vui của nó: cái vui lâu dài và cái vui ngắn ngủi giả tạm. Bây giờ chúng ta vào ngay trau dồi. Còn nếu lý thuyết lòng vòng mà không đi thẳng vào sự trau dồi thì chắc chắn chúng ta chẳng đi tới đâu được hết. Nghe nói mà không biết cách thực hành, không biết cách làm thì Tứ Vô Lượng Tâm này chẳng qua chỉ nói suông thôi, chứ không thể nào thực hiện được cái tâm từ bi hỷ xả chúng ta. Một lời nói mà chúng ta không nhẫn với nhau, không nhường nhau, một ý kiến mà chúng ta không thuận nhau, chúng ta có sự tranh chấp thì làm gì mà có sự vui trong đó được, làm gì có lòng từ, lòng biết thương nhau được! Cho nên tất cả những cái này là những điều những người cư sĩ thường tiếp giao với nhau, với mọi người thì phải tu tập Tứ Vô Lượng Tâm càng nhiều càng tốt để đem lại sự an vui cho mình, cho mọi người xung quanh mình.

Bây giờ chúng ta trau dồi về chân của chúng ta. Khi chúng ta đi thì phải dùng theo hành động đi của chúng ta với pháp hướng mà đức Phật dạy trong kinh là Như Lý Tác Ý. Tác ý theo hành động đó bằng pháp hướng tâm, tức là chúng ta dùng một câu như thế nào để gợi lên lòng thương yêu của chúng ta đối với chúng sanh khi bước đi. Ở đây Thầy xin nhắc quý thầy đây không phải tu Chánh Niệm Tỉnh Giác Định bằng hành động mà mượn hành động chân đi để thực hiện tâm từ của chúng ta dưới bàn chân, dưới bước đi của chúng ta. Cho nên chúng ta dùng pháp hướng Như Lý Tác Ý khi chúng ta bước chân đi. Pháp hướng như thế nào? Thầy đọc các câu ví dụ để rồi quý thầy tùy theo đó mà tự mình soạn ra pháp hướng cho phù hợp với đặc tướng của mình thì áp dụng sẽ có hiệu quả. Còn đây chỉ là câu ví dụ để cho quý thầy mượn đó mà bắt chước mà thôi. Nếu quý thầy lấy câu ví dụ này mà áp dụng vào mình thì chưa hẳn là đúng đặc tướng của mình. Đạo Phật khó là ở chỗ phải biết áp dụng đúng pháp hướng thì mới có hiệu quả, mà áp dụng không đúng pháp hướng thì nó không có hiệu quả. Đây, Thầy đem một câu ví dụ, trước khi chúng ta áp dụng câu pháp hướng để trau dồi tâm từ bi của mình mà nếu mình không biết hướng thì khó có thể áp dụng cho đúng cách, thì nó không có kết quả tốt cho sự tu tập này.

Còn như người ta nói tâm và ý. Vậy thì lúc nào gọi cái tâm, lúc nào gọi là cái ý? Cái ý là nó có cái ý căn, là cái bộ óc của chúng ta. Còn cái tâm thì nó không có cái tâm căn. Bởi vì nếu nói cái tâm thì nó phải có cái tâm căn chớ? Nhưng mà ở đây Phật dạy chúng ta là ý căn chứ không có bao giờ nói tâm căn. Cho nên khi chúng ta gọi cái căn của ý là nó phải đúng là cái chỗ ý căn của nó, tức là cái chỗ nó làm việc. Vì vậy mà pháp hướng tâm Như Lý Tác Ý phải như cái lý đúng của nó thì chúng ta tác ý mới có hiệu quả.

Ở đây Thầy nhắc như vậy thì quý thầy phải nhận thấy được chỗ dùng pháp hướng Như Lý Tác Ý phải đúng lúc, đúng thời hợp, với đặc tướng của mình thì có hiệu quả rất nhanh, còn nếu không như vậy thì không hiệu quả. Cho nên cũng có nhiều người hướng tâm tu tập, nhắc tâm mình rất nhiều nhưng sao thấy nó trơ trơ không kết quả, đó là do mình đặt không đúng tên, đúng họ, đúng trường hợp của nó làm, cho nên nó không hoạt động được.

Đây là câu ví dụ cho quý thầy khi bước đi thì quý thầy hướng tâm. Khi quý thầybước đi thì quý thầy nhắc từng bước như thế này:

“Dưới bước chân ta đi có nhiều loài sinh vật nhỏ nhít, có nhiều loài thảo mộc cỏ cây yếu mềm. Ta hãy bước nhẹ nhàng để tránh tất cả sự đau khổ và chết chóc của muôn loài.”

Đó là một câu để quý thầy nhắc trước khi quý thầy bước đi. Khi nhắc như vậy thì tâm quý thầy tỉnh thức ngay tại ở nơi bước đi và quý thầy tránh tất cả những con vật dưới bàn chân quý thầy. Rồi đi một lúc, sợ quên hướng tâm nên quý thầy lại nhắc lại câu đó nữa. Do sự nhắc nhở, do sự sợ làm đau khổ, sợ làm chết chóc muôn loài, nên câu hướng tâm gây cho quý thầy có một tâm thương yêu, thấm thía trong đó. Mà hàng ngày chúng ta đều trau dồi từng bước đi của chúng ta như vậy thì lòng từ của chúng ta ban rải khắp chúng sanh. Một cọng cỏ mà chúng ta không nỡ đạp lên, sợ đạp lên cỏ mềm yếu rồi nó héo úa đi, tức là thể hiện tâm từ của chúng ta ban rải khắp chúng sanh đó. Vừa đi nhẹ nhàng vừa hướng tâm nhắc như vậy lâu ngày tâm ta có lòng từ thương xót tất cả chúng sanh.

Vì hướng tâm nhắc như vậy lâu ngày huân tập trong tâm chúng ta thành một thói quen thương xót chúng sanh. Ở đây quý thầy đã thấy câu Thầy tạm dùng làm câu hướng tâm để trau dồi Tứ Vô Lượng Tâm, mà khi trau dồi được Tứ Vô Lượng Tâm, cái tâm thương yêu như vậy thì người ta chửi mình, mình có giận nữa không? Khi thể hiện tâm từ được như vậy thì người ta nói một câu nói trái bụng mình, mình có giận không? Không bao giờ còn giận nữa. Cho nên Phật nói từ tâm đối trị tâm sân.

Nhưng mình phải trau dồi nó. Cho dù mình nói quán, như quán từ bi để đối trị tâm sân, nhưng mình không trau dồi tâm từ thì cái tâm sân của mình có hết không? Khi nghe người ta mắng chửi mình thì mình nói: Ừ, tôi cũng biết Tứ Vô Lượng Tâm, tâm từ là đối trị tâm sân. Tôi thường quán phải thương người bằng cách này bằng cách khác, hằng đêm tôi ngồi tôi quán luôn luôn lúc nào tôi cũng thương. Nhưng mà tại sao người ta chửi mình là mình giận, mình dữ lên? Cái đó là do mình chưa trau dồi trong hành động. Có trau dồi trong hành động thì nó mới thể hiện qua hành động của chúng ta. Cái tâm chúng ta thường nhắc trong các hành động, nó làm cho chúng ta thấm nhuần được lòng thương yêu đó.

Còn bây giờ chúng ta ngồi ở trên ghế chúng ta nói bây giờ chúng ta cũng quán từ bi hỷ xả.Đó là quán, còn cái này là hướng, nó khác. Hướng theo hành động mà trau dồi, nó ở trong cái động. Còn quán là mình ngồi im lìm, rồi tư tưởng mình khởi nghĩ ra, quán mình phải thương yêu chúng sanh bằng cách này bằng cách khác, như thế này hay thế khác. Quán không biến ra hành động cho nên không trau dồi từ bi cho thân tâm của mình được. Cho nên quán chỉ là cách tránh né trong một lúc nào đó để cho mình bớt giận hờn phiền não trong lòng mà thôi, rồi mình suy tư cái này cái kia để cho mình xả bớt cái tâm buồn khổ của mình, chớ đối tượng của mình, mình đã chửi người ta hồi chiều rồi thì làm sao mà xoá sạch cái phiền não được? Còn trau dồi là tu ở trong những hành động để chúng ta biến dần cái tâm từ bi, cái tâm thương yêu chân thật của chúng ta thành sự thật.

Đó là cách thức mà Thầy giảng ra đây để cho quý thầy thấy được cái chỗ chúng ta sẽ tập luyện. Bởi vì đây là vai trò của người cư sĩ khi mới bước chân vào đạo Phật các người cư sĩ đã luyện tập cái này rồi chớ không phải là vai trò của người tu sĩ. Khi đã đi sang giai đoạn của tu sĩ là giai đoạn giữ gìn giới luật, tu tập thiền định. Nó không thể nào còn có thời gian mà chúng ta tu tập thiền định nữa. Đợi tới khi làm Bồ Tát rồi ta mới trau dồi Tứ Vô Lượng Tâm thì quá trễ. Còn giai đoạn của người cư sĩ là phải thực hiện tâm từ, tâm bi, tâm hỉ, tâm xả của mình để đối xử với nhau với một lòng thương yêu, làm cho xã hội ngày càng tốt, đất nước thanh bình, không có sự tranh chấp, không có sự tranh đua hơn thiệt với nhau. Do có tâm từ nó mới không có những tai nạn đó.

Đó là hành động khi chúng ta đi. Bây giờ tới cái hành động khác nữa. Khi chúng ta đứng lại chúng ta cũng nhắc vậy. Khi mình đi thì thường nhắc câu hướng tâmtrên, mà khi mình đứng, không còn đi nữa, mình phải nhắc một câu khác để hướng tâm như cái lý trong khi mình đứng:

“Chúng sanh quanh ta rất nhiều từ loài côn trùng nhỏ nhít cho đến các loài thảo mộc yếu mềm, ta đừng đứng trên chúng, vì đứng trên chúng chúng sẽ đau khổ và chết chóc, héo úa.”

Đó là một câu để chúng ta hướng tâm trau dồi lòng thương yêu đến với tất cả muôn loài.

Hôm nay khi quý thầy đã học được những câu hướng tâm như vậy thì quý thầy nhớ khắc ghi trong lòng. Hằng ngày ít ra quý thầy cũng tập nó được ba, bốn lần; chứ đừng có học rồi xếp lại đó, để đó, thì cái công của Thầy giảng dạy quý thầy như thế này, Thầy thấy mệt mỏi vô cùng. Vì quý thầy được học thì phải tu tập để đền đáp lại ơn Thầy. Thầy đã đem hết sức mình ra giảng dạy cho quý thầy từng câu nhắc nhở nhỏ bé như vậy, để tạo cho quý thầy có lòng thương yêu chơn thật nơi tâm hồn của quý thầy, để khi đứng trước các đối tượng quý thầy thoát ra khỏi cảnh đau khổ chính bản thân của quý thầy. Thế mà học rồi quý thầy xếp bỏ vào một góc nào đó, thì thiệt là mỏi mệt cho Thầy vô cùng.

Có tu tập như vậy thì lòng ta từ từ thấm nhuần lòng từ bao la thương yêu tất cả muôn loài vạn vật muôn phương. Nếu khi đứng, chúng ta cũng tập như vậy để nhắc nhở chúng ta đứng tránh gây những sự đau khổ cho chúng sanh, thì nhờ đó giúp cho chúng ta có được một lòng thương, từ đó lòng thương này sẽ thấm nhuần muôn vật, muôn phương.

Bây giờ đến hành động nằm. Bởi vì thân của chúng ta có bốn hành động đi đứng nằm ngồi. Cho nên bây giờ tới cái hành động nằm. Khi nằm ta cũng nhắc như vậy. Nghĩa là mỗi hành động chúng ta phải nhắc, và một ngày chúng ta có bao nhiêu lần đi, đứng, nằm, ngồi, mà mỗi lần đi đứng nằm ngồi là mỗi lần nhắc như vậy thì trong một ngày chúng ta đã thấm nhuần được rất nhiều lòng thương yêu. Tức là chúng ta trau dồi được rất nhiều lần. Một người thợ vót tên, mà ông ta ngồi vót kỹ lưỡng hẳn hòi thì cái tên phải suôn, phải láng, phải tốt. Còn nếu chỉ vót 2, 3 cái rồi bỏ thì cây tên nó có suôn không? Chắc chắn là không suôn bằng người thợ chăm chỉ ngồi vót hoài. Vì vậy mà tâm chúng ta cũng phải trau dồi, trau chuốt nó mãi để cho nó được tốt đẹp, để cho nó có lòng thương yêu thật, để cho nó được đứng trước các đối tượng nghịch ý mà tâm nó như như vui vẻ, không có buồn khổ.

Khi nằm ta nhắc câu tác ý như:

“Tất cả chúng sanh đang ở dưới lưng ta. Ta hãy nhẹ nhàng chú ý xem xét coi có chúng sanh hay không rồi mới nằm”.

Nhiều khi lên giường ván thì quý thầy nằm đại. Mệt mỏi quá rồi nằm đại, không ngờ dưới lưng chúng ta có những con vật, chừng nhìn lại thì có một con nhền nhện bị mình nằm chết cứng ở trong đó rồi, hoặc là một con gián hay hoặc là một con vật nào đó, thậm chí như con bò cạp bị chúng ta nằm lăn qua lăn lại trong khi nó nằm ở dưới lưng chúng ta, đến khi quét dọn hoặc là xếp mùng màn thì thấy một con vật đã chết ở dưới lưng ta. Như vậy là chúng ta đã vô tình không thực hành trau dồi tâm mình trong khi nằm nên đã làm hại chúng sanh.

Khi chúng ta nằm, cái thân của chúng ta to lớn nên sức nặng nhiều quá, còn cái thân của chúng sanh bé nhỏ, giãy giụa dưới lưng ta, ta đâu biết được, trong khi chúng rên la đau đớn, chúng ta đâu nghe được. Vì vậy mà vô tình chúng ta nằm trên sự đau đớn của chúng sanh mà không hay biết.

Muốn trau dồi lòng từ thì chúng ta phải năng nổ, siêng năng tu tập; hằng ngày nhắc đi nhắc lại tâm mình nó mới thấm nhuần được. Khi nằm lăn qua trở lại, ta cũng phải lưu ý và nhắc:

“Tất cả chúng sanh đang ở bên ta, hãy ý tứ đừng nên vô tình mà làm đau khổ và chết chóc chúng.”

Đó là những câu để chúng ta hướng tâm nhắc mình thực hiện cho được tâm từ bi hỉ xả của mình. Mỗi hành động của thân ta đều nhắc như vậy, lần lần tâm ta thấm nhuần tình thương yêu chúng sanh rộng lớn bao la.

Bây giờ đến ngồi. Bởi vì trong cái thân của chúng ta có các hành động đi đứng nằm ngồi. Tất cả những hành động này, nếu chúng ta thiếu sót một điều không tu thì đó là chúng ta đã thiếu khuyết. Khi ngồi ta cũng nhắc hướng tâm câu như:

“Nơi ngồi của ta có những chúng sanh nhỏ nhít, phải lưu ý khi ngồi, Đừng vô tình ngồi trên chúng sanh làm chúng đau khổ và chết chóc. Khi ngồi đừng lắc qua lắc lại vì lắc qua lắc lại va chạm làm đau khổ chúng sanh và chết chóc.”

Quý thầy thấy oai nghi của một người ngồi lắc qua lắc lại với cái oai nghi của người ngồi không lắc qua lắc lại, người nào oai nghi tốt hơn? Đó, quý thầy thấy trong cái tu tập của tâm từ bi mà nó biến thành oai nghi tế hạnh của một con người nghiêm chỉnh. Đi thì nhẹ nhàng, luôn luôn lúc nào cũng ngó xuống để tránh tất cả chúng sanh mà lại là phòng hộ được 6 căn của mình nữa. Các thầy thấy đó là một điều lợi ích rất lớn cho bước đường tu tập theo đạo Phật. Nó làm toát ra những đức hạnh mà con người ở thế gian này khó có thể theo được. Bởi vì con người ở trong thế gian chạy theo dục lạc, cho nên mắt thì liếc ngó để tìm cái nào cám dỗ thu hút thích thú, còn người tu sĩ thì đâu còn chạy theo cái dục lạc cho nên mắt nhìn xuống đất để luôn luôn phòng hộ; mà nhìn thì thấy tất cả loài vật để thực hiện trau dồi tâm từ thương yêu của mình tránh sự đau khổ và chết chóc của chúng sanh.

Đó là những lúc đi, đứng, nằm, ngồi ta từng nhắc như vậy và nhắc từng mỗi bước đi để ta không quên và cố tránh được sự đau khổ và chết chóc của chúng sanh. Đây là sự trau dồi trong các hành động của thân chúng ta, khi đi, đứng, nằm, ngồi.Như vậy là đối với cái thân chúng ta, ở đây tạm thời đủ để quý vị hằng ngày trau dồi, bởi vì hằng ngày quý vị cũng có khi ngồi, có khi đi, có khi đứng, có khi nằm; không thể trong một ngày mà chúng ta không thực hành 4 oai nghi này.

Cũng như khi quý vịmuốn vào giảng đường thì quý vịphải bước vào đây; trước khi bước vào thì quý vị phải đi, cho đến khi quý vị ngồi thì quý vị phải lưu ý chỗ ngồi, rồi đứng quý vị cũng lưu ý chỗ đứng. Cho nên mỗi việc làm chúng ta đều có sức tỉnh thức ở trong đó hết.

Như vậy chúng ta có tu chánh niệm tỉnh thức đâu nhưng mà sức tỉnh thức chúng ta có do trau dồi lòng từchúng ta có sức tỉnh thức. Kế đó lòng từ chúng ta càng lúc càng rộng lớn bao la do pháp hướng nhắc tâm làm cho tâm chúng ta thương yêu chúng sanh vô bờ bến.

Trau dồi lòng từ trong hành động của thân còn gợi lên lòng thương xót của chúng ta đối với chúng sanh bằng sự hành động cẩn thận của mình để tránh sự đau khổ và chết chóc cho chúng sanh. Khiến cho tâm chúng ta càng lúc càng thương yêu chúng sanh nhiều hơn. Nghĩa là các hành động của chúng ta hằng ngày mà được trau dồi thì Thầy tin rằng lần lần quý thầy sẽ có sức tỉnh thức rất lớn và đồng thời lại có lòng thương yêu càng nhiều. Và lòng thương yêu càng nhiều thì nó sẽ cứu quý thầy thoát ra khỏi tâm tham, sân, si, mạn, nghi, không bao giờ còn có tâm niệm xấu. Vì vậy ngũ triền cái quý thầy sẽ xả bỏ, đoạn trừ, dứt hẳn, từ giã nó không bao giờ còn ở trong tâm của quý vị nữa.

Khi Tứ Vô Lượng Tâm này đã ngự trị trong tâm hồn của quý vị thì năm triền cái này phải rớt đi, phải xa quý vị đi, không còn có nữa. Còn nếu không có như vậy, không trau dồi được Tứ Vô Lượng Tâm này thì ngũ triền cái vẫn đeo đẳng theo quý vị, chỉ đến khi nào quý vị thực hiện Tứ Vô Lượng Tâm nó mới dứt được. Nó không đơn giản, nhưng chúng ta cần có sức tu tập bền chí siêng năng thì nó mới đạt được.

Bây giờ lòng mình nói thương mà sự thật mình có thương được chưa? Chưa. Mình thương mình chứ chưa chắc đã thương ai. Thầy nhắc lại một câu chuyện để chứng minh rằng mình thương mình chứ chưa có thương ai hết. Nhưng mà mình nói rằng mình thương người này người kia, sự thật ra mình chưa có thương. Tại sao vậy? Có câu chuyện như thế này:

Bà hoàng hậu Vi Đề Hy hỏi đức vua Bình Sa Vương (Bimbisara):

"Bệ hạ có thương thần thiếp không?"

Nhà vua làm sao lại không thương hoàng hậu, cho nên nhà vua nói nhà vua rất thương hoàng hậu, nhưng tại sao hoàng hậu lại hỏi vậy? Thì bà Vi Đề Hy nói:

“Bệ hạ nói chứ bệ hạ chắc không thương thần thiếp đâu. Nếu giả như thần thiếp lấy một ông quan nào thì bệ hạ có thương thần thiếp không? Khi bệ hạ nghe được tin “trời sét” thần thiếp đã lấy một vị quan nào ở trong triều này thì lúc bấy giờ bệ hạ chỉ có nước thứ nhất là chặt đầu thiếp, thứ hai là giam thiếp ở trong lãnh cung chớ đâu có bao giờ để cho thiếp được tự do như thế này. Nếu là thương thiếp thì bệ hạ đâu có làm cái điều đó. Bởi vì thương người mà người ta muốn như vậy thì mình cứ để cho người ta làm. Như vậy mới gọi là thương. Tại sao bệ hạ nói bệ hạ thương thần thiếp mà khi nghe cái tin như vậy thì bệ hạ không còn thương nữa? Tức là bệ hạ thương bệ hạ. Điều đó chứng minh rõ ràng là bệ hạ thương bệ hạ chứ bệ hạ đâu có thương thần thiếp".

Đó, qua câu chuyện như vậy chúng ta thấy rõ ràng chúng ta thương mình chứ không thương ai hết. Nghe người vợ mình lấy người khác thì nổi tức ầm ầm lên rồi. Như vậy là mình có thương người không? Có thương vợ mình không? Hay là thương mình? Vì thương mình, nên mình muốn bảo vệ cái của mình. Đó là thương mình, chớ đâu phải là thương người khác. Còn thương người khác là phải giúp cho người đó thực hiện ý của họ.

Đó, ở chỗ trau dồi tâm từ bi để chúng ta thấy được cái thương của chúng ta đối với muôn vật như thế nào. Quý thầy khi chưa trau dồi tâm từ bi, một con bò cạp cắn quý thầy đau, quý thầy giết con bò cạp liền. Như vậy là quý thầy nói tôi từ bi lắm, tôi thương lắm. Tôi thương lắm mà con bò cạp cắn đau quá thì quý thầy giết liền tức khắc. Như vậy đâu phải thương con bò cạp.

Những cái này là những bài học thực tế để chúng ta biết tình thương của chúng ta đang ở vị trí nào để chúng ta trau dồi nó. Một con vật cắn dù chúng ta có chết cũng không nỡ giết nó nữa. Còn chúng ta chưa chết mới đau thôi mà đã vội đã giết chết con vật khác, rồi thấy con vật nào chúng ta cũng sợ hãi mà chúng ta giết hết. Sợ nó cắn mình cho nên giết sạch hết. Vì lòng thương yêu nhỏ mọn đó, ích kỷ đó đối với sự thương yêu mình cho nên trong xã hội nó mới có sự bất an, có sự tranh chấp nhau. Chớ nếu lòng thương yêu của chúng ta rộng lớn đối với mọi người chắc chắn không có sự bất an đó.

Vì vậy bài học đầu tiên trong Phật pháp là Tứ Vô Lượng Tâm. Để làm gì? Để xây dựng con người có đạo đức chân thật, biết thương yêu người. Để xây dựng xã hội tốt đẹp, để cho trong xã hội có trật tự an ninh hẳn hòi. Vì lòng thương yêu đó mà có trật tự chứ không phải chúng ta có kỷ luật thế này thế khác, buộc mọi người thế này thế khác mà lòng thương yêu đó chẳng có thì xã hội chẳng có trật tự. Hình thức bên ngoài thì có trật tự, nhưng bên trong có sự bắt buộc nào đó, chớ sự thật thiếu trật tự. Đời sống càng ngày càng khổ là do chúng ta không tìm được nguyên nhân để giải khổ, cho nên cuộc sống con người rất là khổ. Ở đây đức Phật dạy ta biết pháp nào để trau dồi nó, để xây dựng mình tốt, xã hội tốt, nó mới có được cuộc sống hạnh phúc an vui cho nhau.

Lúc chúng ta bước chân đi, chúng ta đi với lòng từrất rõ ràng thương yêu chúng sanh vô bờ bến, tràn ngập. Nếu khi bước đi ta không còn nhắc tâm nữa mà chúng ta thấy bước chân tự nhiên có sự tràn ngập lòng thương yêu chúng sanh, đó là chúng ta đã viên mãn từ vô lượng tâm. Còn bây giờ chúng ta đang đi mà chúng ta phải thường nhắc, rồi cái tâm lần lần huân lên sự thương yêu đó thì tức là đang trau dồi. Còn khi đi mà chúng ta thấy tự nhiên bước đi của mình, tự nhiên thân tâm của mình nó lách qua lách lại tránh sự đau khổ của cỏ cây thảo mộc cho đến các loài chúng sanh nhỏ nhít dưới bàn chân. Chúng ta không nhắc mà cái tâm thương xót, nó luôn luôn làm cho chúng ta theo dõi từng bước đi để không va chạm, để không làm đau khổ thì đó là chúng ta đã viên mãn lòng từ trong Tứ vô lượng tâm.

Ở đây Thầy nói ra cái kết quả cho chúng ta biết. Khi lòng từ như vậy thì chúng ta thấy tâm bấy giờ phủ trùm lên tất cả các loài vật, thảo mộc cây cỏ đều thương yêu. Một nhánh cây kia các thầy cũng không bao giờ nỡ bẻ, hoặc là ngắt một cái lá, bứt một cái bông nữa. Tình thương yêu đến mức độ không ngờ, đến lúc ta không còn trau dồi mà chúng ta thấy tất cả mọi người, mọi cây cỏ đều có sự sống y như nhau. Đó là viên mãn lòng từ của chúng ta tu tập. Còn nếu bây giờ chúng ta không thực hiện được lòng từ thì thấy cái bông đẹp là ngắt liền. Điều đó chứng minh rằng chúng ta chưa có lòng từ thương yêu. Ở đây Thầy muốn nói như vậy để khi nào chúng ta thực hiện tới đó thì chúng ta mới thấy cái tâm của chúng ta phủ trùm lòng thương yêu trên vạn vật, cho nên Phật nói tâm từ biến mãn khắp mười phương chúng sanh là như vậy. Và từ đó các thầy sẽ thấy nội cái Tứ vô lượng tâm này quý thầy đã giải thoát tâm hồn của mình, không còn có một pháp môn nào hết hoàn toàn vì đã thương thì không còn tham, đã thương thì không còn giận, mà nếu còn tham, còn giận thì làm sao gọi là thương. Đó, như vậy nội trong pháp Tứ vô lượng tâm cũng đem quý thầy đi đến nơi giải thoát, tới Niết bàn vĩnh cửu. Vì có thương yêu mọi người chân thật thì cái ngã không còn. Vì thương yêu cá nhân của mình thì cái ngã mới lớn. Đó là pháp môn vi diệu nhất mà chúng ta từng trau dồi th́ì chúng ta có sự giải thoát hoàn toàn. Niết bàn trước mặt chúng ta, đâu phải đợi chúng ta nhập Tứ thiền, mới nhờ Tam minh mà diệt lậu hoặc mới là Niết bàn. Mà chính ngay lòng thương yêu chúng ta cũng đã là Niết bàn.

Mỗi pháp môn của Phật đều có những vi diệu tuyệt vời của nó, nhưng vì chúng ta chưa biết, chưa trau dồi. Phỏng chừng một năm mà quý thầy mỗi khi đi đứng nằm ngồi đều trau luyện tâm từ thì chắc chắn sau một năm đó quý thầy thực hiện được lòng từ bi hỷ xả của quý thầy, thì ngay cuộc sống của quý thầy đã giải thoát hoàn toàn. Vì thế mà quý thầy thấy trong giới luật của Phật cấm không cho chúng ta trồng cây cỏ này kia hoặc làm cái nọ cái kia, tất các nghề nghiệp đều đình chỉ hết. Người tu sĩ chỉ còn biết đi khất thực ăn mà thôi, đi xin người khác thôi, không làm cái gì hết, bởi vì làm là động đến chúng sanh; làm là làm đau khổ chúng sanh. Không phải chúng ta ích kỷ nhưng mà chúng ta thực hiện đúng lòng thương yêu của chúng ta chơn thật để cho tình thương đó phủ trùm trên muôn loài.

Vì thế bước vào đạo Phật chúng ta thấy đức Phật cấm người tu sĩ làm tất cả các nghề, không được làm một nghề gì hết. Vì còn làm một nghề nào thì cái nghề đó sẽ đem đến sự đau khổ cho chúng sanh. Muốn được vậy thì chúng ta phải từ ngày này qua ngày khác trau dồi tâm từ trong 4 oai nghi đi đứng nằm ngồi của thân chúng ta.

Bây giờ về cái phần tay. Cái tay của chúng ta phải cầm, nắm, bắt. Cái tay của chúng ta cũng có hành động của nó. Nếu nó không có hành động, nó cứ cứng đờ thì chúng ta không nói tới nó, bởi vì tu trong hành động, trau dồi lòng từ của chúng ta trong hành động.

Khi tay cầm, nắm, bắt lấy tất cả mọi vật dụng cần thiết cho đời sống tu hành cũng như cơm ăn, áo mặc hằng ngày, ta thường trau dồi tâm bằng pháp hướng như lý tác ý, nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Nghĩa là luôn luôn lúc nào khi chúng ta cầm một vật gì của người khác cho mình, khi ta cầm một cái gậy hay cầm vật dụng cần thiết cho đời sống của mình thì mình phải nhắc, mình phải hướng tâm nhắc nó như cái lý giải thoát của đạo để tâm từ thương yêu của mình, từ đó phát triển và nó thấm nhuần cũng từ nơi đó.

Đây, Thầy đem ví dụ câu hướng tâm, như cái lý chân thật đó để chúng ta nhắc tâm mình khi tay nắm một vật gì của người khác cho hoặc là cầm một vật gì thì chúng ta phải nhắc:

“Tất cả những vật dụng cần thiết như cơm ăn, áo mặc, thuốc thang là của làm bằng mồ hôi, nước mắt của mọi người cực nhọc mới có cho ta. Ta phải biết ơn và thương yêu họ và thương yêu tất cả mọi người, dù người đó có hay không có cúng dường cho ta với lòng chơn thật không bao giờ đánh trả lại, mắng chửi họ, không bao giờ nặng lời to tiếng với họ. Vì đánh mắng chửi rủa nặng lời với họ là ta đã không biết thương yêu họ, là ta đã làm cho họ khổ sở. Ta phải nói lời nhẹ nhàng an ủi để làm cho mọi người vui mà không buồn khổ nữa.”

Đó là câu để chúng ta hướng tâm, chúng ta thường nhắc đi nhắc lại như vậy cho nó thấm nhuần. Vì vậy mà mỗi lần chúng ta nhận vật gì cúng dường, như quý thầy nhận một cuốn tập của ai cúng dường bằng mồ hôi nước mắt của họ, thì chúng ta tâm niệm, lặng một chút xíu để chúng ta hướng tâm từ, đó là chúng ta đã trau dồi tâm từ của chúng ta đó, lòng thương yêu của chúng ta đó. Do đó khi có người khác mắng chửi thì chúng ta lặng tâm trên câu hướng này làm cho chúng ta không còn giận hờn người khác nữa, không còn đau khổ nữa. Tâm chúng ta xả hoàn toàn.

Đó, trên bước đường tu tập nếu chúng ta biết áp dụng đúng cách thì ngay tức khắc chúng ta có những pháp hướng kèm theo khi chúng ta chưa thuần thục. Còn khi chúng ta đã thuần thục rồi thì chắc chắn là quý thầy sẽ thênh thang ở trên tâm hồn vô ngại, không còn một chướng ngại nào làm cho tâm của quý vị chướng ngại nữa.

Khi cầm, nắm, bắt lấy ta cũng nhẹ nhàng từ tốn, lỡ trên thân đồ vật có những chúng sinh nhỏ bé, quý vị mạnh tay sẽ làm cho chúng đau khổ và mạng vong. Đó, chúng ta lưu ý về cái phần khi cầm vật, như bây giờ có người đưa cho mình cuốn tập, mình hai tay cầm, mình cũng quan sát coi ở trên cuốn tập này có con kiến hoặc con vật gì không, để mình khỏi vô tình nắm nó dẹp lép, nó chết đi. Đó là những điều chúng ta tập luyện. Mà tập luyện như vậy là tập luyện tỉnh thức, trong khi đó lại tập luyện được lòng từ, thì cái này là cái rất quý, vừa tập được cái này mà nó đạt được cái kia. Nhưng ở đây chúng ta không được gọi nó là Chánh niệm tỉnh thức định. Ở đây không được gọi nó như vậy, đây chỉ là tập tỉnh thức trong hành động để trau dồi tâm từ bi hỉ xả của mình, trau dồi Tứ vô lượng tâm mà thôi.

Khi muốn trau dồi tâm từ các hành động của thân nơi tay thì quý vị phải siêng năng, cần mẫn nhắc đi nhắc lại nhiều lần để tâm tỉnh giác nơi mọi hành động của tay mình, tránh sự vô ý làm đau khổ chúng sanh. Có tinh tấn, có siêng năng tu tập lòng từ bằng hành động của thân tỉnh giác, nhắc nhở lòng chúng ta thương yêu chúng sanh vô bờ bến, từ đó ta mới thấy thương yêu chúng sanh như thật.

Ở đây Thầy xin giải thích thêm phần này để quý thầy thấy lòng từ đối với chúng sanh có nghĩa sai biệt chỗ này, chỗ kia. Bởi vì nếu không hiểu thêm phần này thì chúng ta không biết lòng thương yêu của chúng ta đối với chúng sanh như thế nào. Một chúng sanh đang bị tai nạn, và một chúng sanh đang mạnh giỏi bình thường thì lòng từ vô lượng này nó sẽ đối với chúng sanh nào? Ở đây Thầy giải thích thêm để cho quý thầy thấy lòng từ là thương yêu chúng sanh chưa có tai nạn, chưa có bệnh tật, chưa có khổ đau. Lòng từ thì thương yêu chúng sanh đang mạnh khỏe, cho nên lòng từ nó rộng lớn lắm, nó không có cái đối tượng giãy dụa đau đớn, vì vậy mà lòng từ là lòng thương người trong khi mạnh giỏi, thương chúng sanh trong khi đang mạnh.

Còn khi thấy một cây cỏ úa hay một cái bông nó héo mà chúng ta khởi thương yêu nó, thì cái thương yêu đó gọi là lòng bi, chớ không phải lòng từ. Phân biệt được như vậy chúng ta thấy, chúng ta tu lòng từ là chúng ta thương chúng sanh đang ở trong mạnh khỏe, chứ không phải là chúng sanhtrong sự đau ốm, hoặc tai nạn hay chết chóc rồi chúng ta mới thương yêu chúng sanh. Cho nên lòng từ khác với lòng bi. Phân biệt được như vậy thì chúng ta biết bây giờ chúng ta đi đứng thì những con vật dưới chân ta là con vật mạnh giỏi, chứ không phải con vật đau đớn. Cho nên hành động của chúng ta hằng ngày trong khi đi đứng đều tránh, không làm đau khổ chúng sanh, để cho chúng được mạnh khỏe, an vui, thảnh thơi, vui sướng ở trong đời sống của chúng, hòa mình ở trong cuộc sống, trong không gian và thời gian này, hành động đó là lòng từ. Đó là lòng từ của chúng ta thực hiện đối với con người, con vật đang vui tươi, đang mạnh khỏe. Tức là học tới cái lòng hỷ thì chúng ta mới thấy được cái hỷ hòa mình ở trong sự an vui đó để cho tâm hồn của chúng ta phủ trùm trên sự sống của muôn vật với lòng thương yêu khắp cùng với nhau.

Còn lòng bi thì nó khác, khi chúng sanh hoặc con người gặp tai nạn nào đó, thí dụ người ta bị xe đụng, người ta bị bệnh khổ, người ta lâm tai nạn... thì ngay cái đối tượng đau khổ đó chúng ta thương yêu, thì sự thương yêu đó bắt buộc chúng ta phải thực hành bằng hành động. Người bị tai nạn thì mình tới giúp đỡ họ liền, người bị bệnh khổ thì mình tìm thang thuốc cho họ uống, người sợ hãi không dám qua đường thì mình dắt họ qua đường... thì đó là cái lòng bi. Mình đi trên xe buýt thấy một bà già bước lên mà không có chỗ ngồi, mình đứng dậy nhường cho bà già đó ngồi, đó là lòng bi. Vì bà già đang yếu đuối, bà không thể nào gượng khi xe dừng hoặc là xe chạy. Cho nên chúng ta nhường chỗ ngồi như vậy là lòng bi chứ không phải lòng từ. Phân biệt được vậy chúng ta mới biết từ như thế nào, bi như thế nào, để thực hiện cho đúng cách của nó.

Từ thuộc về nhân, nghĩa là cái nhân mình chuẩn bị cho chúng sanh đừng có đau khổ, mà bi là cái quả; bởi vì chúng sanh gặp những tai họa nhức nhối thì bi, lòng bi của chúng ta đối với chúng sanh là đối trong cái quả. Mà lòng từ đối với nhân là chưa có gì hết, chúng ta chuẩn bị cho đừng có xảy ra tai nạn, lòng từ là cái nhân. Cho nên lòng từ biến mãn khắp mười phương chúng sanh, hòa mình trong cuộc sống vạn vật từ cỏ cây đến cầm thú đều được an lành. Không có con vật này giết con vật kia, không có giẫm đạp lên nhau, chà xéo lên nhau trong cuộc sống; không có tham dục, không có ích kỷ nhỏ mọn, không có cá nhân chấp chặt ... mà chỉ có một quyền sống bình đẳng như nhau. Người này thương yêu người nọ, người nọ thương yêu người kia, sống vì người, vì tất cả chúng sanh nên gọi là lòng từ. Lòng từ phải được trau dồi, thấm nhuần, lưu xuất từ tận đáy lòng thương yêu chân thật. Nếu không được trau dồi thì lòng từ kia chỉ là một hình thức suông. Vì thế cuộc sống của muôn loài đang bị đe dọa trên những danh từ hoa mỹ “từ bi, bác ái”. Bằng chứng là hiện giờ chúng ta chỉ thấy danh từ gọi là từ bi, bác ái, chỉ là danh từ thôi, chưa thực hiện đúng từ bi, bác ái giữa con người với conngười, nói chi từ bi, bác ái con người đối với con vật, chưa có cái từ bi, bác ái đó. Người ta dùng từ bi, bác ái đểbịp đời chớ chưa hẳn là người ta đã thương đời thật. Cho nên ở đây chúng ta phải lật trái điều này để chúng ta thực hiện tâm mình cho chân thật, chứ không khéo mình cũng bị những danh từ che đậy này mà tưởng rằng mình từ bi, bác ái. Thật ra mình chưa có trau dồi nó thì mình chưa hẳn đã từ bi, bác ái được, vì chúng ta lầm chấp cái tâm này, cái thân này là ngã thì từ bi kia không bao giờ có được. Mà muốn có được từ bi thì chúng ta phải trau dồi nó. Và khi trau dồi nó thì ngã chúng ta lần lần tiêu mòn, chỉ còn biết người mà không thấy có mình, nhưng trong đó có mình. Có mình mà như không có mình.

Đây là phần vừa là lý thuyết mà cũng vừa thực hành. Mà thực hành thì quý thầy phải nhớ kỹ những câu pháp hướng là những điều quan trọng nhất. Còn lý thuyết nói mênh mông để nghe cho nó thấu rõ được cái lý chứ sự thật ra cái lý thuyết nó chẳng ăn nhằm gì hết. Nghe nó lắm rối tai, làm rối đầu. Mà chính những câu pháp hướng, những câu ngắn ngủi mà Thầy vừa nói là cái mấu chốt để quý thầy trau dồi bằng sự tỉnh thức của mình trong mỗi hành động thân của quý thầy. Đó là những điều quan trọng nhất của cuộc đời tu hành của người tu sĩ. Còn cái mà Thầy nói lòng vòng như thế này, chỉ nói để cho nghe hiểu, cho vui chơi. Nó cũng như bài ca để ca hát cho quý vị nghe cho vui vậy, chứ không có nghĩa lý gì hết. Cho nên khi nghe xong rồi thì những danh từ mà Thầy đã ca ở đây, quý vị dẹp hết đi, chỉ còn các câu pháp hướng, đó là ngọn đuốc thắp đường để cho quý thầy trau dồi sáng suốt thân tâm của mình. Cho nên tu thì không có nhiều mà nói thì rất nhiều. Vì nhiều khi quý thầy không hiểu, phải nói ra cho hết, cho rõ, cho hiểu. Hiểu rồi thì áp dụng không có bao nhiêu.

Khi cầm một vật gì ta phải nhẹ nhàng nhắc nhở, Thầy nhắc nhở lại câu pháp hướng hồi nãy:

“Trên mọi vật đều có chúng sanh đang ở trên đó. Ta hãy cầm nhẹ nhàng để tránh sự chết chóc và đau khổ của chúng sanh.”

Nắm, bắt, lấy cũng vậy, đều phải tập ý tứ nhẹ nhàng khiến cho người tu sĩ càng ngày càng có oai nghi tế hạnh hơn, không còn có những hành động thô tháo.

Đó, chúng ta tu tập, trau dồi tâm từ nó có lợi ích cho chúng ta là tập luyện các oai nghi tế hạnh của mình. Những hành động nhẹ nhàng làm cho chúng ta trở thành những vị tu sĩ xứng đáng là đệ tử của Phật. Nương vào mỗi hành động tay hoặc chân của ta đều hướng tâm nhắc tâm ta thương yêu tất cả muôn loài, từ đó tâm ta mới có sự thấm nhuần sâu vào tận xương tủy của chúng ta; từ đó biến mãn ra hành động nơi thân mình đầy lòng thương yêu chân thật.

Ở đây, Thầy xin nhắc lại, quý thầy phải hiểu: đừng lầm tưởng rằng chúng ta tu như vậy là tu Chánh niệm tỉnh giác định, đây chỉ là tu trau dồi Tứ vô lượng tâm bằng hành động thân của mình qua pháp hướng Như lý tác ý của Phật. Nhờ có Như lý tác ý, tâm ta thấm nhuần lòng từ chân thật. Chính lòng từ chân thật này xuất hiện nơi tâm ta, ta mới tu hạnh nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng đạt kết quả tốt. Quý thầy thấy khi chúng ta trau dồi lòng từ mà chúng ta đạt được thì nhờ tâm từ xuất hiện chúng ta mới nhẫn nhục được. Còn không, chúng ta chỉ dùng danh từ nhẫn nhục để mà chơi, hoặc để nén tâm mà thôi, chúng ta nén chịu, chứ tâm chúng ta bực tức ở trong đó. Đó là chúng ta chưa có tu hạnh nhẫn nhục, nhưng danh từ nhẫn nhục thì ai ai cũng biết, danh từ tùy thuận thì ai ai cũng rõ. Nhưng khi chúng ta chưa trau dồi lòng từ thì nhẫn nhục tùy thuận chỉ là danh từ suông đối với chúng ta mà thôi.

Khi có từ tâm, một con vật chúng ta còn thương thay huống chi là một con người đang chửi mắng ta và làm khổ ta. Từ tâm rất quan trọng vì đứng trước mọi vật đang mạnh khỏe, đang hung hăng dữ tợn và có thể giết ta, hại ta nhưng lòng từ vẫn ban rãi đến chúng, thương yêu chúng. Người có lòng từ không bao giờ biết sợ hãi trước mọi hiểm nguy.

Thầy nhắc lại phần này cho rõ: Một khi chúng ta có lòng từ rồi thì tâm của chúng ta không còn sợ hãi con vật nào hết, vì mọi sinh vật quanh ta cũng là những con vật ham sống và sợ chết, nó thấy ta nó cũng sợ. Một con beo, một con cọp, một con gấu, một con voi, con vật nào nó thấy con người cũng sợ, chứ không phải là nó không sợ. Do cái sợ hãi đó nên nó nhìn chúng ta chăm chăm. Chúng ta cũng sợ nó nên chúng ta nhìn nó chăm chăm. Nhưng trong đôi mắt chúng ta nhìn chăm chăm vào con vật đó có sự hung dữ trong đó. Còn người có lòng từ họ không sợ hãi cho nên họ không sợ con vật đó giết họ. Cho nên họ ngồi, đôi mắt họ hiền từ nhìn xuống, họ không bao giờ sợ hãi. Và khi con vật thấy đôi mắt nhìn xuống thì nó biết đó là con vật lành, do vậy nó không bao giờ tấn công giết hại người có lòng từ đâu. Cho nên những người tu sĩ thường ẩn bóng trong rừng núi, họ ở trong những chỗ hiểm nguy, có thú dữ mà họ chẳng hề sợ hãi. Do họ đã tu tập có được lòng từ chớ không phải có thiền định. Bởi vì lòng từ của họ giúp cho họ chẳng hề sợ hãi trước sự nguy hiểm của thân họ. Với lòng từ thì không thể nào giết hại một con vật nào dù cho con vật đó có hại cho họ. Họ thà chịu chết, chứ họ không bao giờ làm đau khổ và giết hại con vật khác. Do vì lòng từ đó mà họ chẳng sợ nguy hiểm, chẳng ngại những gian lao khó khăn, nhờ vậy mà họ thực hiện con đường ẩn bóng, hoặc là con đường tu tập để đạt được nguyện vọng giải thoát cao hơn. Do đó, họ chẳng sợ hiểm nguy rừng sâu nước độc, họ thường ở những nơi thanh vắng để tập luyện những thiền định.

Quý thầy thấy rằng hiện giờ chúng ta chưa có lòng từ nên bước ra một bước là chúng ta sợ hãi nơm nớp, do lòng từ của chúng ta chưa có. Khi chúng ta có lòng từ, chúng ta ngồi trên xe thản nhiên không lo trộm cắp móc túi. Tại sao vậy? Nếu quả chăng có những người trộm cắp móc túi thì đó là chúng ta ban rải cho chúng những cái mà chúng đã không có. Cho nên chúng ta vẫn an nhiên tự tại. Nhưng đối với một người tu sĩ thì làm gì có vật gì đâu mà sợ. Cho nên chúng ta vẫn an nhiên ngồi trên xe mà không sợ móc túi. Người tu sĩ tiền không có, vật quý không có, chỉ có cái bộ y áo trong mình với cái bát sành thì ăn trộm ăn cắp nó để làm gì, cho nên chúng ta vẫn an nhiên vui vẻ. Do vì vậy mà tu tập lòng từ thì phải sống một đời sống phạm hạnh của người tu sĩ của đạo Phật thì lòng từ mới thể hiện dễ dàng. Còn nếu có vật gì mà làm chúng ta nơm nớp lo sợ để giữ gìn nó, tức là lòng từ chúng ta khó thực hiện được.

Đến cái cuối cùng này quý thầy thấy trước tiên ta áp dụng phương pháp tu trau dồi lòng từ nghe thì nó dễ dàng. Nhưng đến mức cuối cùng, để kết luận để thấy rằng trau dồi lòng từ không đơn giản vì phải sống đời sống đúng hạnh của người tu sĩ thì lòng từ mới thực hiện trọn vẹn. Còn nếu không thì chỉ mới đạt được phân nửa mà thôi. Như vậy chúng ta đạt được phân nửa của lòng từ thì chúng ta cũng thấy được cái cõi đời của chúng ta an vui hạnh phúc vô cùng. Còn đạt được viên mãn lòng từ thì cả một vấn đề tu tập. Cuộc sống của chúng ta phải xa lìa những vật chất thế gian, xa lìa những cái trói buộc, chúng ta phải vứt bỏ hết thì lòng từ kia mới thực hiện được, vì lòng từ kia thực hiện được tức là tâm không sợ hãi. Người chưa có lòng từ thường hay sợ hãi. Thấy một con bọ cạp, một con rắn dữ, một con beo, một con gấu, một con hùm, v.v... nếu con vật lớn thì họ sợ hãi, cao bay xa chạy; còn con vật nhỏ bé thì họ đập, giết không tiếc thương. Trái lại lòng từ không cho phép ta có những hành động độc ác này. Lòng từ không cho phép chúng ta cao bay xa chạy trước những con vật hung dữ lớn hơn chúng ta. Lòng từ không cho phép chúng ta có tâm tàn nhẫn giết hại những con vật nhỏ bé. Người có tâm từ không hề sợ hãi thú dữ và còn thương yêu chúng nữa. Cho nên chúng ta nghe các vị tu ở trong rừng núi, nhiều khi cọp nó ngồi gần bên mà nó hầu hạ các vị. Tại sao vậy? Tại vì lòng từ của các vị ban rải, cho nên con vật đó thông cảm, nó giao cảm được với tình thương của con người. Còn chúng ta vô rừng mà gặp cọp beo thì chắc chắn là chúng ta bị nó xé xác, tại vì tâm của chúng ta, cái từ trường của chúng ta không có từ, cho nên con vật đánh hơi được sự hung dữ của chúng ta. Tâm chúng ta dữ tợn, vì vậy nó phải giết những con vật dữ để bảo vệ sự sống của nó. Cũng như bây giờ chúng ta thấy một con bọ cạp nhưng chúng ta chưa giao cảm cái từ trường của nó. Nó chỉ là một con vật, nó có một chất độc để bảo vệ sự sống của nó, chớ nó đâu phải dùng chất độc đó để đi giết chúng ta. Nhưng lòng từ chúng ta không có cho nên chúng ta lại đập giết nó, chớ nó không đem chất độc để giết chúng ta. Nhiều khi một con vật ở trên mái nhà rớt xuống trên mình chúng ta, nó đâu có cắn chúng ta. Nhưng khi chúng ta vô tình lấy tay để nhẹ lên trên nó, vì vô tình chúng ta không biết có nó. Nhưng vì nó đau quá, bắt buộc nó phải cắn chúng ta. Do đó chúng ta bị cắn là vì nó bảo vệ sự sống của nó chứ không phải nó đi tìm chúng ta mà cắn.

Thường thường Thầy ngủ bò cạp hay rớt ở trên mình. Người tu hành trau dồi tâm từ kỹ lưỡng thì khi cựa mình, phải ý tứ hẳn hòi, hành động nhẹ nhàng thì làm sao bò cạp cắn. Còn quý thầy cựa mình thì lăn cái ù, tay chân thì quơ, vì vậy mà đụng nó đau, cho nên nó cắn quý thầy, rồi đâm ra giết nó, thì rất là tội. Hôm nay Thầy nói như vậy để biết rằng sự trau dồi lòng từ là hành động nhẹ nhàng của chúng ta. Chúng ta tránh gây sự đau khổ cho chúng sanh, hãy nên bảo vệ mạng sống của chúng.

***

Đang có 68 khách và không thành viên đang online

Lượt xem
478
Các bài viết
1288
Số lần xem các bài viết
2286251
52.8%Viet Nam Viet Nam
22.1%Australia Australia
17.6%United States United States
2.3%Japan Japan
1%Canada Canada
1%Germany Germany
0.6%France France
0.3%Kuwait Kuwait
0.1%Republic Of Korea Republic Of Korea
0.1%United Kingdom United Kingdom

Hôm nay: 606
Hôm qua: 751
Tuần này: 2943
Tuần trước: 5229
Tháng này: 22489
Tháng trước: 19512
Tổng cộng: 608793