• khatthuc1
  • quetsan
  • benthayhocdao
  • ttl1
  • phattuvandao1
  • vandaptusinh
  • ttl3
  • tinhtoa1
  • huongdantusinh
  • phattuvandao3
  • amthat1
  • daytusi
  • tranhducphat
  • lailamtoduong1
  • ThayTL
  • vandao2
  • chanhungphatgiao
  • tinhtoa2
  • tamthuphattu
  • thanhanhniem3
  • thanhanhniem1
  • amthat3
  • lopbatchanhdao
  • amthat2
  • toduongtuyetson
  • thanhanhniem2
  • Thầy Thông Lạc đi khất thực
  • Thầy Thông Lạc quét dọn sân
  • Bên Thầy Thông Lạc học đạo
  • Thầy Thông Lạc
  • Phật tử vấn đạo Thầy Thông Lạc
  • Bên Thầy Thông Lạc học đạo
  • Thầy Thông Lạc tại Hòn Sơn Thánh Tích
  • Thầy Thông Lạc đang ngồi tĩnh tọa
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy cho các tu sinh
  • Thầy Thông Lạc vấn đáp đạo cho các Phật tử
  • Am thất
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy tu sĩ
  • Tranh đức Phật
  • Thầy Thông Lạc lai lâm tổ đường
  • Thầy Thông Lạc
  • Thầy Thông Lạc giảng đạo cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc viết sách
  • Thầy Thông Lạc đang ngồi tĩnh tọa
  • Thầy Thông Lạc trả lời tâm thư Phật tử
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy "Thân Hành Niệm" cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy "Thân Hành Niệm" cho các Phật tử
  • Thầy Thông Lạc đi khất thực
  • Thầy Thông Lạc đi khất thực
  • Tổ đường Tuyết Sơn
  • Thầy Thông Lạc dẫn dạy "Thân Hành Niệm" cho các Phật tử
In bài này

Giới Luật Cư Sĩ

Lượt xem: 5869
Share

TRƯỞNG LÃO THÍCH THÔNG LẠC

GIÁO ÁN TU ĐẠO PHẬT


 

I.- GIỚI LUẬT CƯ SĨ

1. NHỮNG GÌ CẦN THÔNG SUỐT

Hôm nay chúng ta tiếp tục học giáo án của đức Phật dạy giai đoạn 1 của người cư sĩ.

Khi muốn là đệ tử Phật, bắt đầu người cư sĩ thay đổi 6 nghề nghiệp, họ không làm 6 nghề bất thiện, nhưng rồi họ sẽ tu cái gì đây? Không lẻ người cư sĩ chỉ biết thay đổi nghề nghiệp bất thiện thôi sao? Cho nên hôm nay Thầy phải giảng đủ để biết được vị trí tu tập của người cư sĩ ở chỗ nào.

Thay đổi nghề nghiệp bất thiện để làm nghề nghiệp thiện đó là chánh nghiệp để cho cư sĩ làm những điều thiện, còn sự tu tập để cho đời sống của họ được sự an vui, được hạnh phúc, ở trong gia đình cũng như đối với mọi người xung quanh, đem lại an vui cho nhau, thì những bài pháp của Phật có dạy cho người cư sĩ tu rất là rõ ràng, chứ không chỉ dạy riêng cho những người tu sĩ xuất gia, mà không có pháp cho người cư sĩ tu. Nếu giai đoạn 1 của người cư sĩ mà chúng ta chỉ lướt qua, chỉ nói có thay đổi 6 nghề nghiệp bất thiện mà không dạy cách thức tu thì sợ e chúng ta sẽ có sự thiếu khuyết.

Tuy trong giai đoạn 2, là giai đoạn của những bậc cắt ái ly gia, bậc xuất gia, nhưng đức Phật có dạy rõ ràng giới luật không chỉ cho các vị xuất gia mà cả giới luật cho người cư sĩ tại gia. Cho nên bắt đầu bây giờ chúng ta trở lại giai đoạn thứ nhất để dạy cho người cư sĩ tu tập. Như vậy là chúng ta phải đi từng bước một, từ người cư sĩ rồi đến người tu sĩ phải tu như thế nào cho đúng cách, nếu không khéo thì người cư sĩ không biết pháp của họ tu, họ tu lầm lạc sang pháp của người xuất gia. Và ngược lại, người tu sĩ cũng không hiểu pháp nào là pháp của mình tu, do đó người tu sĩ lại tu nhầm lẫn qua pháp của người cư sĩ.

Chúng ta phải biết các pháp của cư sĩ đã tu tập hoặc sẽ tu tập thì người tu sĩ chúng ta cũng đã phải tu tập trước, tu tập hết không có pháp nào của Phật dạy mà chúng ta không tu. Vì người tu sĩcũng từ chiếc áo của người cư sĩ để rồi sau đó chúng ta trở thành người tu sĩ, chớ không phải chúng ta ở trên trời rớt xuống làm người tu sĩ liền được.Cho nên đức Phật dạy các pháp từ thấp đến cao, từ dễ đến khó rất rõ ràng và cụ thể.

Vì vậy mà bài pháp giáo án hôm nay giúp cho người cư sĩ bắt đầu tu trong chiếc áocư sĩ những pháp nào, rồi tiến đến giai đoạn của người tu sĩ thì tu những pháp sâu hơn, cao hơn, để không khéo người cư sĩ không hiểu, họ lại tu trong những pháp cao hơn, sâu hơn ví dụ như Bốn thiền, thì không thể nào người cư sĩ thực hiện được pháp Tứ thiền, tại sao vậy? Vì Phật nói nhập Thiền Thứ Tư tịnh chỉ các hành, là tịnh chỉ các hành ở trong nội thân của chúng ta, đòi hỏi thân tâm phải hoàn toàn thanh tịnh mà người cư sĩ thì tâm thân của họ chưa thanh tịnh. Vì có sự thanh tịnh, Phật mới nói là tịnh chỉ, chứ không phải định chỉ. Tịnh là thanh tịnh, mà thanh tịnh ở đây phải biết rằng pháp nào của người cư sĩ được tu nó mới làm cho tâm của họ thanh tịnh. Từ chỗ tâm thanh tịnh đó họ mới ly trần, mới cắt ái ly gia, họ mới trở thành người tu sĩ, từ đó họ mới tu tiếp để thực hiện được Bốn Thánh Định tức là từ Sơ thiền tới Tứ thiền. Chớ không phải Bốn Thánh định này tu tập dễ dàng đâu, chỉ khi nào tâm chúng ta thanh tịnh,ngũ triền cái chúng ta đã đoạn dứt thì chúng ta mới thực hiện được Tứ thánh định.

Do vì vậy mà hiện giờ nghe nói đến tu thì người ta chuyên môn ngồi thiền chứ người ta không phân biệt được thứ thiền nào là của người cư sĩ tu, thứ thiền nào là của người tu sĩ tu. Có phân biệt rõ như vậy thì chúng ta mới thấy được giáo án của Phật đi từ thấp đến cao, từ dễ đến khó. 

Thầy xin nhắc lại giai đoạn tu tập thứ nhất của đạo Phật của người cư sĩ thì người mới bắt đầu đến với đạo Phật phải không hành 6 nghề bất thiện và còn phải tu tập những gì?

Phật dạy có bốn điều người cư sĩ tại gia phải rõ:

2. NHỮNG GÌ CẦN THÔNG HIỂU

Nghĩa là người cư sĩ khi đến với đạo Phật, trước tiên cần phải tìm hiểu những gì cần hiểu của đạo Phật, mà tìm hiểu đúng pháp của người cư sĩ sẽ tu chứ nếu họ tìm hiểu pháp xuất gia của người tu sĩ thì họ tu nhầm như đã nói ở trên, do vậy, họ tu chẳng có thành công, chẳng có kết quả gì hết. Cho nên ở đây Phật dạy thông hiểu những gì cần phải thông hiểu, những gì đáng thông hiểu của người cư sĩ, chứ không phải thông hiểu hết được. Mà phải thông hiểu ở góc độ những pháp môn của người cư sĩ, chứ không phải thông hiểu pháp môn của người tu sĩ, chẳng hạn như bây giờ 250 giới của tỳ kheo thì người cư sĩ không nên thông hiểu 250 giới đó mà nên thông hiểu 5 giới của chính người cư sĩ, đó là thông hiểu những gì phải thông hiểu.

3. NHỮNG GÌ CẦN TRAU DỒI

Nghĩa là người cư sĩ khi đến với đạo Phật cái thứ nhất là phải thông hiểu những gì ở mức độ, vai trò của người cư sĩ cần thông hiểu. Rồi đến giai đoạn trau dồi thì trau dồi như thế nào đối với những pháp gì mà người cư sĩ cần phải trau thân tâm của mình. Có những pháp để người cư sĩ trau dồi, có những pháp người cư sĩ phải thông hiểu. Như vậy, đối với người cư sĩ, có những pháp cần phải thông hiểu, và có những pháp cần phải trau dồi.

4. NHỮNG GÌ CẦN DỨT BỎ

Nghĩa là người cư sĩ khi đến với đạo Phật, đức Phật nói cái này phải bỏ là phải dứt bỏ, chứ không được còn dính dáng với nó. Cũng như người tu sĩ đến với đạo khi đức Phật đã dạy những pháp nào cần dứt bỏ thì người tu sĩphải cố gắng hết sức mình để dứt bỏ nó, chớ đừng không dứt bỏ thì không thể nào tiến trên con đường đạo được. 

Nghĩa là có những pháp để thông hiểu, có những pháp cần phải dứt bỏ, có những pháp cần phải trau dồi và có những pháp cần phải tu tập. 

Đó là bốn điều kiện khi người cư sĩ bước chân vào đạo Phật phải hiểu, nghĩa là trước tiên phải thông hiểu, sau đó người cư sĩ phải trau dồi thân tâm mình, rồi kế đó người cư sĩ phải dứt bỏ những gì cần dứt bỏ, rồi đến những pháp môn hằng ngày cần phải tu tập. Đó lànhững điều người cư sĩ cần phải hiểu và thông rõ. Chứ nếu không nắm vững được cái này chắc chắn người cư sĩ không biết đường lối đâu mà tu. 

5. NHỮNG GÌ CẦN TU TẬP

Như vậy khi thay đổi nghề nghiệp đời sống quý vị cư sĩ mới sống thiện, nghĩa là thay đổi nghề nghiệp ác đang làm đó để sống bằng những nghề nghiệp thiện hơn, cho nên đời sống của người cư sĩ bây giờ mới là đời sống thiện. Sau đó người cư sĩ cần phải tu tập những cái gì?

Thứ nhất cần phải nghiên cứu tìm hiểu những lời của Phật dạy. Nghĩa là tronggiai đoạn thứ nhất, người cư sĩ có 4 điều kiện cần phải nắm cho vững, phải hiểu cho rõ. Thứ nhất, Phật dạy ở đây phải thông hiểu những gì cần thông hiểu. Vậy thì người cư sĩ phải thông hiểu cái gì, tìm hiểu cái gì đây. Ở đây Phật dạy rất rõ là người cư sĩ phải tìm hiểu những cái sau:

1. Tứ diệu đế

2. Thập nhị nhân duyên

3. Nghiệp

4. Thân ngũ uẩn

5. Tứ bất hoại tịnh

6. Tứ chánh cần

7. Tứ niệm xứ

8. Tứ thiền

9. Tứ như ý túc

10. Ngũ căn

11. Ngũ lực

12. Thất giác chi

13. Thập thiện

14. Nhân quả luân hồi

15. Tam minh

16. Tứ vô lượng tâm

Đó là tất cả những pháp Phật dạy, người cư sĩ đến với đạo Phật cần thông hiểu những gì phải thông hiểu, tức là thông hiểu 16 pháp Phật đã nêu tên ra, lúc bấy giờ người cư sĩ sẽ tìm hiểu từng pháp đó như thế nào để người cư sĩ hiểu rõ ràng, coi có phải cái đó có hợp với mình không, có phải là ước vọng của mình trên bước đường mình gửi thân tâm vào đó để tu hành không? 

Sau khi nghiên cứu thông suốt được rồi, thấy 16 pháp này phù hợp với ước vọng, nguyện vọng của mình thì người cư sĩ đó mới tiếp tục trau dồi những gì mà mình đã tìm hiểu được trong những pháp trau dồi. Chứ không phải bây giờ tôi ngồi thiền, nhập định hoặc nghiên cứu như vậy rồi tôi tu Tứ thiền hoặc dùng Tứ Như Ý Túc hoặc là tôi dùng những điều kiện cao siêu thì nó không đúng cách đâu. 

Cho nên ở đây khi được nghiên cứu kỹ như vậy rồi thì bắt đầu phải tu tập cái gì đây, phải trau dồi những cái gì đây?

Đó là những điều kiện cần phải phân minh, cần phải rõ ràng, đúng đường lối tu tập. Chứ nếu không phân minh, không rõ ràng đường lối tu tập như vậy thì chắc chắn là người cư sĩ nhào vô chẳng biết đường lối nào mà tu.

Cho nên ở đây Thầy thấy như thế này: Khi quý thầy đến với Thầy thì hầu như là người thì chỉ ngồi thiền, người thì nhiếp hơi thở, người thì tri vọng, biết vọng liền buông, người thì công án, người thì niệm Phật, chứ không nghe quý thầy đi từng bước một của sự tu tập. Quý thầy chưa bỏ hết những gì mà quý thầy có, chưa từ bỏ, chưa từ giã những cái đó mà quý thầy vội vàng tu những pháp của những bậc ly trần xuất thế, thì điều đó là cái sai rất nhiều của thời đại bây giờ. Người ta không thấy được đời sống phạm hạnh.

Qua đời sống chuyên tu thiền nó khác hơn là đời sống của cư sĩ vì họ đang sống với bao nhiêu gia duyên, nhiêu sự việc trói buộc, ràng buộc, như phải làm cho hết bổn phận của người đời, của người cư sĩ. Thế mà họ vội vàng tu thiền; họ không hiểu rõ được đường lối cách thức thì tu mãi mà vẫn dậm chân tại chỗ, uổng phí công sức, vừa mất thì giờ mà tu tập chẳng đi đến đâu. 

Hôm nay Thầy vạch một lối đi cho cụ thể và rõ ràng để cho quý thầy, quý cư sĩ tìm hiểu rất rõ ngọn nguồn để bước đi vững chắc không bị vấp ngã. Đây là những bài pháp mà đức Phật đã dạy cho các đệ tử của Người trong thời xa xưa mà thời bây giờ người tu hành đúng theo lời dạy này vẫn thấy hiệu quả giải thoát thân tâm rõ ràng. Nghĩa là qua 16 pháp Thầy kể tên ở trên, đến bây giờ nếu chúng ta tu đúng, chúng ta vẫn thấy được sự giải thoát thân tâm rõ ràng, làm chủ được sự sống chết và sanh tử luân hồi rõ ràng.

Qua kinh nghiệm bản thân của Thầy, những lời dạy này tu tập cụ thể có thứ lớp, có tầng bậc, sắp xếp có thứ tự rất khoa học từ dễ đến khó, từ cư sĩ mới tu cho đến người xuất gia tu sĩ, đâu đâu rõ ràng. Người cư sĩ tại gia phải tu những pháp nào, người xuất gia tu sĩ phải tu những pháp nào, rõ ràng và rất minh bạch.

Theo như lời đức Phật đã dạy ở trên, ở giai đoạn đầu, người cư sĩ phải thông hiểu những gì cần phải thông hiểu. Vậy phải thông hiểu cái gì đây?

Có rất nhiều điều trong đời sống cần phải hiểu và phải thông suốt nó. Nghĩa là quý vị cư sĩ khi vào đạo Phật, mặc dù quý vị đang sống ở trong cuộc sống, nhưng chưa hiểu cuộc sống như thế nào.Phải nói rằng chưa hiểu, không biết nó như thế nào mà mọi người đều ham mê và điên cuồng chạy theo nó, không bao giờ chịu buông nó ra. Đó là điều mà quý vị cần phải hiểu tại sao nó cuốn hút, nó lôi người ta dữ tợn như vậy, nó xâm chiếm người ta dữ vậy, nó sai bảo người ta dữ vậy? Để cho người ta ở trong cái khổ mà người ta không thấy cái khổ đó, người ta biết nhưng mà người ta không tránh được nó.

VẤN ĐỀ CẦN THÔNG SUỐT: Vì đâu có sự sai khác trong xã hội?

Đầu tiên chúng ta tìm hiểu đời sống thế gian. 

Nghĩa là chúng ta bây giờ bắt đầu suy nghĩ, nhờ đó chúng ta mới thông hiểu những cái đó. Qua những bài pháp của Phật dạy, chúng ta mới thông hiểu đời sống của chúng ta, chúng ta có so sánh mới biết đời sống nó như thế nào đây. Tại sao có người yểu tử, có người trường thọ. Đó là một sự tìm hiểu, bởi vì Phật dạy cái gì cần hiểu thì phải tìm hiểu nó cho thông suốt.

Vì vậy mà bây giờ chúng ta đặt ra những câu hỏi như thế này: Tại sao có người yểu tử, có người trường thọ? Có người mới sanh ra là chết, có người được 12, 13 tuổi là chết, có người thì 30, 40 tuổi chết, tại sao có người sống đến 100 tuổi mới chết? Tại sao nó lạ lùng vậy? Lẽ ra con người 100 tuổi thì nó đều 100 tuổi chứ, tại sao lại có người yểu tử mà có người trường thọ? Đó là những cái chúng ta thấy nhan nhản ở trong cuộc sống của chúng ta, những sự việc rất cụ thể và rõ ràng. Vậy thì chúng ta phải tìm hiểu những điều này có lý do như thế nào?

Tại sao có người bệnh nhiều mà có người lại ít bệnh?Điều đó là điều có thực của loài người ở trong xã hội này, chứ chúng ta không thể nào chối cãi được. Tại sao có người sanh ra cho tới lúc già chết, họ chỉ bệnh có tí xíu là họ chết, còn có người sinh ra ngay từ nhỏ họ dã bị bệnh liên miên bất tận. Cái gì mà làm cho họ bệnh nhiều như vậy?

Đó chúng ta cần phải đặt ra để tìm hiểu cuộc đời chúng ta đang sống, những điều thực tế xẩy ra trong cuộc sống của chúng ta.

Tại sao có người xấu, có người đẹp? Nghĩa là tại sao có người sanh ra tướng mạo phương phi, đẹp đẽ; nhưng lại có người gù lưng, tật nguyền, mặt mày xấu xa, mũi tẹt răng hô… đủ loại xấu. Như vậy thì phải có cái gì ở trong đó, những lý do khiến cho con người sinh ra đã có sự không đồng đều, lẽ ra đẹp thì phải đẹp hết, xấu thì phải xấu hết chớ, tại sao có người vầy người khác.Đó là những cái mà chúng ta cần phải tìm hiểu.

Tại sao trong xã hội chúng ta sống có người có quyền thế lớn, có người có quyền thế nhỏ, có người không có quyền thế nào cả, suốt cuộc đời chỉ đi làm đầy tớcho người khác hoặc làm nô lệ cho người khác mà không có quyền hạn gì hết. Đó là những cái người cư sĩ cần phải tìm hiểu trong cuộc sống của mình.

Tại sao có người tài sản nhỏ, có tài sản nhỏ mà có người tài sản lớn, giàu có lớn?Tại sao có người sanh vào gia đình hạ liệt, có người lại sanh vào gia đình cao quý? Đó là những cái nhan nhản trước mắt của chúng ta, không thể nào chối bỏ được điều đó.

Tại sao có người trí tuệ thông minh mà có người trí tuệ yếu kém, không thông minh, đần độn? Do duyên gì, do nhân gì giữa con người với nhau lại có kẻ hạ liệt, người ưu tú như vậy?

Đó là những điều chúng ta đặt ra câu hỏi để tìm hiểu, mà tìm hiểu một sự thật chúng ta chưa hiểu được, không thể hiểu được. Chính đức Phật đã dạy chúng ta để so sánh và có thể phân biệt được, để tìm ra nguyên nhân đó. Từ tìm ra nguyên nhân các sai biệt đó thì chúng ta mới biết con đường của đạo Phật để chúng ta hiểu được những điều này. Nếu không thông suốt lý do sai biệt đó thì chúng ta đâm ra hoang mang, nghi ngờ cuộc sống của chúng ta.

Nếu chúng ta trả lời rằng có một Đấng Vạn Năng, một đức Cha Lành, một đức Phật Toàn Năng thì không lẽ những Vị đó sinh chúng ta ra mà lại đặt chúng ta trong những hoàn cảnh sai biệt như có người xấu có người tốt sao?

Đặt vấn đề: Quý vị là những người cư sĩ, khi quý vị sinh con ra, quý vị muốn các con của quý vị như thế nào? Chắc chắn quý vị đều muốn các con của quý vị đứa nào cũng phải tốt đẹp, cũng phải thông minh, không có đứa xấu, đứa tốt. Thì một đấng Toàn Năng Sáng Tạo ra loài người cũng phải nghĩ như vậy, họ cũng phải nghĩ rằng những con người mà họ sáng tạo ra phải tốt đẹp như nhau. Nhưng tại sao trong thực tế lại khác biệt như vậy?

Như vậy có phải có Thượng Đế hay không? Hay là không có Thượng Đế ở đây? Tại sao Thượng Đế sanh con người ra kẻ vầy người khác? Kẻ đau khổ nhiều người đau khổ ít?

Do vì vậy mà đạo Phật giảng bài này cho chúng ta hiểu do vì đâu mà có sự việc này.

Muốn hiểu rõ điều này thì chúng ta phải hiểu Nghiệp. Bây giờ đức Phật nói về vấn đề Nghiệp. Vậy Nghiệp là cái gì đây?

Đức Phật dạy nghiệp là chủ nhân của loài người, nghĩa là nghiệp đẻ ra loài người. Nghiệp là người chủ. Nghiệp muốn cho người đó tốt xấu nọ kia, chớ không phải có người nào muốn như thế. Do nghiệp, sanh chúng ta được sanh ra. Nghiệp thường sai khiến con người như thế này như thế khác, nó bảo gì thì con người phải làm theo chứ không có chống lại nó được.

Con người là thừa tự của nghiệp. Nghĩa là mình sinh ra đây là thừa tự nghiệp của chính mình. Nghiệp là thai tạng của con người, tức là nghiệp sanh ra con người đó.

Nghiệp là quyến thuộc, là điểm tựa, và nghiệp lại phân chia ưu liệt của loài người.Nghĩa là nó phân chia ra người tốt, người xấu đó. Nó sanh con người ra rồi nó phân chia con người ra. Vậy nghiệp từ đâu mà đến?Nó có phải là Đấng Vạn Năng không?

Đó là những điều mà chúng ta đặt ra để tìm hiểu, để chúng ta thấu rõ được đời sống con người, để chúng ta thấu rõ số mệnh của con người ở trong cuộc đời. Như vậy chúng ta tìm hiểu cái nghiệp này như thế nào cho đúng?

Thứ nhất, chúng ta phải hiểu nghiệp là thói quen của chúng ta. Nghĩa là một người mới sinh ra thì họ chưa biết ghiền thuốc, họ cũng chưa biết ghiền rượu, nhưng khi lớn lên, rồi gặp môi trường bạn bè, hoặc người ở trong nhà buôn bán rượu thì bắt đầu họ nếm thử chút chút. Ban đầu họ thấy đắng, cay, hôi, họ không có uống được nhưng rồi lần lần họ thấm nhuần, họ quen đi rồi trở thành ghiền đi. Mà trở thành ghiền thì đó là đã trở thành cái nghiệp rồi. Cho nên bây giờ người nghiện rượu nghe mùi rượu thì thấy như thế nào? Họ thích liền, họ không có từ giã được, họ không có ly nó ra được, mà họ sáp vô để họ uống một ly rượu. Có nhiều người khi đã ghiền rượu rồi thì mỗi buổi sáng không uống ly rượu thì họ thấy con người của họ khó chịu, nó ụa, nó ọe, nó làm những điều kiện như người bị bệnh vậy. Làm cho cái thân của họ quá khổ sở, cái tâm của họ chao động, không có tỉnh táo được nữa.Mà khi uống vào ly rượu họ thấy họ tỉnh táo và cái thân của họ bình thường trở lại. Nghe nó sảng khoái, nghe nó có hỷ lạc ở trong đó. Cho nên họ rất thích thú. Thói quen đó gọi là nghiệp. Cái thói quen đó mới dẫn chúng ta đi vào trong sinh tử luân hồi, cho nên gọi nghiệp là thai tạng.

Nghiệp là chủ nhân tức là nó sai chúng ta, nó làm chủ chúng ta. Nó sai chúng ta làm cái gì chúng ta làm cái nấy. Bởi vì khi chúng ta quen cái đó rồi, khi cái thói quen đó khởi lên, nó muốn cái gì thì chúng ta không ngăn được cái nó muốn.Nên nói đó là cái nghiệp sai chúng ta làm cái điều đó.

Chẳng hạn bây giờ do cái tâm sắc dục của chúng ta, vì thân của chúng ta sinh ra nơi sắc dục nên cái thân cũng có những đòi hỏi sắc dục. Vì vậy mà khi thấy người khác phái thì sinh ra cái tâm sắc dục, rồi nó đòi hỏi hỷ lạc của sắc dục. Cái thân sinh ra từ sắc dục, nó đã có cái nghiệp sắc dục rồi, thế mà chúng ta không ngăn chặnsắc dục, chúng ta bước vào nghiệp, nó trở thành thói quen, nó nghiện ngập, xa sắc dục không được.Cho nên từ đó đức Phật dạy cắt ly sắc dục, đoạn dứt sắc dục để chúng ta chấm dứt sự sanh tử luân hồi.

Như bài giảng Thầy vừa giảng xong về giới luật, mà giới bất tịnh thì chúng ta đã biết con đường sinh tử, nó không phải cái gì khác hơn là tâm dâm dục của chúng ta. Ở đây, chúng ta thấy tâm dâm dục đó chính là cái nghiệp, mà chính cha mẹ sinh mình cũng sinh ra từ nơi cái nghiệp đó, cho nên ngay cả thân và tâm chúng ta được sinh ra cũng từ cái nghiệp đó, vì vậy mà chúng ta thừa tự cái nghiệp đó. Cho nên Phật nói con người là thừa tự của nghiệp. Thì quý thầy thấy có đúng không?

Phật dạy: Con người chúng ta là thừa tự của nghiệp nghĩa là cha mẹ mình đã vì cái nghiệp dâm đó mà sinh mình ra, cho nên thân tâm của mình không phải là thừa tự cái nghiệp dâm đó sao. Do vậy, khi đi vào con đường tu hành của đạo Phật là chúng ta phải xa lìa nghiệp dâm, đoạn dứt nó, chấm dứt nó, như vậy chúng ta đi ngược lại nghiệp dâm có khó chịu không? Nghĩa là chúng ta chống lại nghiệp dâm.

Cho nên như hồi nãy Thầy nói đức Phật dạy chúng ta có 4 điều kiện, cái gì thông hiểu thì chúng ta phải thông hiểu, cái gì trau dồi thì chúng ta phải trau dồi, cái gì dứt bỏ thì chúng ta phải dứt bỏ, cái gì tu tập thì chúng ta phải tu tập.

Bây giờ cáichúng ta đã hiểu được là cái nghiệp dẫn chúng ta đi trong sinh tử luân hồi đau khổ. Chúng ta biết rằng bản thân chúng ta, thân tâm chúng ta đang là thừa tự của cái nghiệp, chúng ta biết rằng cái nghiệpđưa dẫn người ta tới chỗ mãi mãi đau khổ trong bốn cái khổ sanh - lão - bệnh - tử. Chúng ta đang thừa tự cái nghiệp thì chúng ta phải đoạn dứt nó. Phải mạnh mẽ đừng có yếu kém, nếu chúng ta yếu kém thì không thể nào dứt bỏ nghiệp được. Cho nên Phật nói: Có những pháp cần phải dứt bỏ thì phải dứt bỏ, chớ không thể nuôi dưỡng nó được, không thể kéo lê thê theo mình được, mà phải dứt bỏ ngay liền, chấm dứt ngay liền.

Đó là cái pháp gọi là nghiệp. Chúng ta biết mình đang là thừa tự của nghiệp, thì mình không nhận cái thừa tự đó nữa, nghĩa là mình chấm dứt cái nghiệp đó đi. Ngay từ bây giờ mình đừng có nghiệp dâm dục, cái tâm mình khởi lên dâm dục thì mình dùng những pháp để tu tập. Pháp đó là pháp gì? Cái pháp để loại trừ thân tâm thừa tự nghiệp dâm dụclà mình phải quán bất tịnh. Mình phải xét thân tâm của mình nó như thế nào được gọi là thanh tịnh, như thế nào gọi là không thanh tịnh. Từ đó mình sẽ thấy cái thân ghê gớm, mình sẽ thấy cái thân bất tịnh, nhơ bẩn, ô uế, uế trược; từ đó chúng ta thấy không còn thừa tự sản nghiệp của cái nghiệp dâm dục này nữa. Tức là chúng ta chấm dứt sự sanh tử rồi đó.

Như vậy thì quý thầy thấy rõ ràng là những gì chúng ta cần dứt bỏ là chúng ta phải dứt bỏ. Nghĩa là chúng ta thấy cái đó nguy hiểm, đừng vì một chút dục lạc mà chúng ta kéo lê thê cái đời đau khổ của mình, để luôn luôn mãi thừa tự nghiệp dâm này, thừa tự những cái sanh tử này. Chúng ta biết thừa tự cái này sẽ đem đến sự khổ đau cho chúng ta. Cho nên muốn chấm dứt cái nghiệp dâm thì có những cái mà chúng ta phải đoạn dứt. Vì vậy chúng ta phải tu tập, siêng năng luyện tập những điều đã được Phật dạy: quán thân bất tịnh để đoạn dứt được nghiệp dâm. Nếu không quán bất tịnh thì khó mà đoạn dứt được nghiệp dâm, từnghiệp dâm đó mới có những thai tạng của cái nghiệp sanh chúng ta ra.

Vậy chúng ta biết rằng cái nghiệp là thói quen, cái nghiệp là sự ô nhiễm làm cho chúng ta khó bỏ nó. Do những thói quen mà hằng ngày trong những hành động của chúng ta tạo ra nghiệp thiện, nghiệp ác, nghiệp ham muốn chứ không gì khác hơn hết. Nếu chúng ta hằng ngày chửi bới thiên hạ thì nó quen đi, thành ra lúc nào chúng ta cũng dễ dàng chửi bới người ta được hết. Còn ngày ngày chúng ta không mắng, không chửi ai hết, ngày này qua ngày khác thì nó không thành cái nghiệp của chúng ta.

Cho nên ở đây Phật dạy chúng ta làm điều thiện thì không có chửi mắng ai, làm điều thiện thì không có trộm cắp của ai, làm điều thiện thì không bao giờ có những hành động tà dâm bất tịnh. Đó là những điều mà chúng ta phải hiểu và thông suốt, và biết từ bỏ, dứt bỏ nó.

Nói như vậy chúng ta đã hiểu sơ qua về nghiệp, nếu giảng rộng thì giảng thêm nghiệp đi trong luân hồi, nghiệp tái sanh thì cần phải rất nhiều thời gian giải thích để cho quý vị thấu suốt.

Tạm thời ở đây Thầy ngắn gọn, sau này có những việc chúng ta cần phải nghiên cứu về các nghiệp này nữa để chúng ta thông suốt tất cả các nghiệp trong thân chúng ta.Chúng ta biết rằng trong thân chúng ta có ba nơi hành nghiệp: đó là thân của chúng ta, miệng của chúng ta, và ý của chúng ta. Ba chỗ hành động này gọi là hành động nghiệp. Nghĩa là nghiệp cũ có rồi tạo nghiệp mới. Như vậy chúng ta luôn luôn trôi lăn trong 6 nẻo luân hồi là do chỗ nghiệp này, chứ không phải gì khác hơn hết.

Bây giờ quý thầy đã hiểu được nghiệp thì chúng ta mới biết được tại sao có người giàu người nghèo, người tốt người xấu, người bệnh nhiều, người bệnh ít như những vấn đề hồi nãy đặt ra. Quý thầy thấy nghiệp làm cho cuộc sống mọi người có sự sai khác nhau như vậy.

Đây quý thầy nghe kỹ, nhất là những người cư sĩ đangở giai đoạn tu tập thứ nhất, phải lắng nghe và chú ý cho kỹ. Nghĩa là các vị cư sĩ còn sống trong gia đình, còn vợ, còn con, còn cha mẹ, bạn bè thân thuộc, bà con xóm làng, không phải là người xuất gia đã bỏ tất cả, thì quý vị lắng nghe bài so sánh này để biết được chính nghiệp chi phối và phân chia ra con người có ưu liệt và có tốt xấu. Vì vậy quý vị phải lắng nghe cho kỹ để thực hiện được những gì mà chúng ta cần phải chấm dứt, phải đoạn dứt nó.

1. Nghiệp: Lý do Yểu Tử hay Trường Thọ

“Khi một người đàn ông hay một người đàn bà tàn nhẫn giết hại chúng sanh, tay lấm đầy máu, tâm chuyên sát hại, đả thương, lòng không có chút từ bi, không biết thương xót loài vật, do nghiệp sát sanh ấy thành tựu”. Nghĩa là Phật muốn nói cái nghiệp giết hại chúng sanh, đả thương chúng sanh, làm cho chúng sanh chết mà tâm không chút thương xót chúng sanh, nghĩa là khi việc giết hại chúng sanh đó đã thành thói quen, tức thói quen giết hại chúng sanh đã thành cái nghiệp rồi, ở đây Phật nói gọn như thế này: "do nghiệp sát sanh ấy thành tựu", thì người đó sau kiếp sống này, khi họ bỏ thân này, họ bị chết đi, thì họ sẽ đi về đâu? Họ sẽ vào cõi dữ, ác xứ, đọa xứ, địa ngục, sau một thời gian dài sống trong cảnh giới súc sanh, cảnh giới đau khổ của địa ngục, ở cảnh giới ác thú của những thú dữ đang giết chóc lẫn nhau… trải qua nhiều đời nhiều kiếp trong cảnh giới đó, họ mới được sanh làm người. Tuy họ được sinh ra làm thân người nhưng vì cái nhân ác trước kia của họ, vì cái nghiệp của họ thành tựu rồi, thì họ sinh lên người, người đó bị yểu tử. Yểu tử nghĩa là có những nghiệp mới vào trong bào thai chừng 1 tháng, 2 tháng là đã bị trôi thai. Hay người vừa sanh ra là đã bị chết, hay có người sanh ra được 3, 4 tháng, có người sanh ra được 1, 2 tuổi, có người sanh ra được 11, 12 tuổi rồi xe đụng hoặc là bệnh tật chết. Có người sanh ra được 20 tuổi, 30 tuổi chết. Cái chết đó là do chỗ người đó đã sát hại chúng sanh, cho nên họ bị yểu tử, tuổi những người yểu tử này không trên 30 tuổi được. Nghĩa là khoảng dưới 30 tuổi là yểu tử. Còn những người nào sống được trên 30 tuổi, đến 50, 60 tuổi mới chết, có người thì sống được trường thọ 100 tuổi mới chết. Từ 30 đến 60 tuổi là trung thọ. Từ 60 trở lên là trường thọ.

“Nếu có người đàn ông hay người đàn bà từ bỏ sát sanh, tránh xa sát sanh, tay không bao giờ lấm máu chúng sanh, luôn có lòng từ bi thương xót đến hạnh phúc tất cả chúng sanh, các loài hữu tình. Do nghiệp ấy thành tựu”, nghĩa là thành nghiệp thiện không giết hại chúng sanh, sau khi họ bỏ thân này thì họ sinh vào cảnh giới thiện, cõi giới thiện, nghĩa là cõi giới tốt không có ác pháp ở trong đó, hoặc là sanh vào cõi trời, sau cùng thì họ sinh làm người, họ được trường thọ, tuổi từ trên 60 đến 100 tuổi. Con đường đưa họ đến trường thọ là con đường không giết hại chúng sanh.

Như vậy bài kinh này nhắn nhủ người cư sĩ giữ tay đừng lấm máu, tâm thường thương xót chúng sanh dù là loài nhỏ nhít như côn trùng sâu bọ cho đến loài lớn như con người; người cư sĩ nên thương chúng, đừng đoản mạnh chúng, đừng làm đau khổ chúng, để có vậy mới sanh vào cõi Trời hay cõi nào đó cũng hưởng được cái thân không yểu tử, cái thân được yên ổn không bị đau khổ trong đó.

Khi người cư sĩ hiểu như vậy thì người cư sĩ tu pháp nào đây? Ở đây Phật dạy người cư sĩ phải dứt bỏ và khi đã thông suốt rồi, biết là hành động giết hại chúng sinh thì sẽ đưa đến thọ mạng yểu tử. Cho nên người cư sĩ thấy việc làm cho chúng sanh đau khổ là không tốt, vì ai làm cho chúng ta như vậy chúng ta cũng đau khổ, chúng ta cũng ham sống sợ chết. Suy tư như vậy người cư sĩ phải thông suốt, cho nên người cư sĩ phải đi vào điều kiện thứ ba là phải dứt bỏ những gì cần phải dứt bỏ, nghĩa là dứt bỏ không sát sanh nữa, và từ đây về sau cũng không ăn thịt chúng sanh nữa vì ăn thịt chúng sanh thì phải giết chúng sanh. Khi biết như vậy thì người cư sĩ đem lòng từ biến mãn khắp chúng sanh. Con kiến đi trên mặt đất người cư sĩ cũng không dẫm đạp lên vì làm vậy có thể làm chúng bị chết hay thương tật, tạo sự đau khổ cho chúng. Suy nghĩ như vậy, chúng ta thấy các loài hữu tình, các loài động vật đều có sự đau khổ như chúng ta vậy. Cho nên người cư sĩ không bao giờ có thể làm đau khổ loài vật nhỏ cũng như loài vật lớn. Ngay như con muỗi, con mòng cũng không nở làm chúng chết khi chúng đến và hút máu chúng ta, chúng ta chỉ bảo vệ để chúng không thể hút máu chúng ta được. Đó là chúng ta không nở tâm làm điều ác giết hại chúng, bởi chúng ta phải thực hiện điều "phải dứt bỏ điều cần dứt bỏ". Cho nên từ đây về sau, các cư sĩ phải nỗ lực thực hiện không làm đau khổ chúng sanh nữa, không giết hại chúng sanh nữa và không ăn thịt chúng sanh nữa. Chúng ta không ăn chay, nhưng vì lòng thương chúng sanh mà chúng ta không nở ăn thịt chúng. Bởi vậy, đức Phật không dạy tỳ kheo ăn chay mà chỉ dạy các vị tỳ kheo khi ăn thịt động vật thì "không thấy, không nghe, không nghi". Khi thấy, nghe, nghi thì không ăn, và đồng thời cũng trong bài kinh Jivaka đó Phật dạy tiếp khi chúng ta ăn thực phẩm thì chúng ta biến mãn tâm từ bi khắp mười phương. Nếu tâm từ bi biến mãn khắp mười phương chúng sanh mà trong thực phẩm chúng ta ăn có sự đau khổ của chúng sanh thì chúng ta còn ăn thực phẩm đó không?

Cho nên đức Phật đâu cấm chúng ta ăn thịt, nhưng chúng ta không ăn thịt là thực hiện tâm từ bi của chúng ta. Thầy xét thấy bài kinh Jivaka đức Phật dạy chúng ta "Ăn chay trên (siêu việt hơn) ăn chay" chứ không phải ăn chay là không ăn thịt chúng sanh. Cho nên có một số nơi làm món ăn chay bằng thực vật rau quả mà đặt tên gọi cũng như có hình thức của món mặn, thí dụ mắm chay, đùi gà chiên chay, thịt bò chay,... như vậy người tu theo đạo Phật chắc chắn không ăn rồi, nhưng người ăn chay thì họ nói trong món ăn này hoàn toàn không có thịt cá, chỉ có đậu hủ thôi, nên họ ăn. Nhưng đối với đức Phật khi thấy hình dáng của thịt động vật thì Ngài không ăn món ăn có hình dáng thể hiện sự đau khổ, thể hiện sự chết chóc của chúng sanh.

Như vậy chúng ta mới thấy đức Phật dạy chúng ta ăn chay với lòng từ bi chứ không phải chỉ là ăn chay suông thôi, nghĩa là ăn chay siêu việt hơn. Thế mà có người tự nhận mình là đệ tử xuất gia của Phật, tu theo Phật mà ăn thịt chúng sanh.

2. Nghiệp: Lý do của Bệnh Tật hay Khỏe Mạnh

Bây giờ, chúng ta sẽ so sánh tiếp để người cư sĩ thấy được đức Phật dạy vì sao có người bệnh nhiều, có người bệnh ít.

Phật dạy "Nếu có người đàn ông hay đàn bà tánh hay đánh đập làm đau khổ chúng sanh bằng tay, bằng gạch, bằng gậy, bằng roi, bằng đao kiếm". Thí dụ mình có một tôi tớ trong nhà hay con cháu mình hoặc ngay cả vợ con mình, do làm sai lời hay lở tay làm rớt bể đồ vật gì,... rồi mình tức giận mà đánh nó một bạt tai, đó là làm đau khổ nó. Đó là giữa con người với nhau; còn đối với con vật thì còn tệ hại hơn nhiều. Lúc Thầy con trẻ thấy các cháu trai hay gái bắt dế hay các con côn trùng cho chúng đá nhau, cắn nhau; hay cho các con cá đá nhau; hay dùng roi, dùng gậy đánh đập chó mèo khi nó ăn vụng... Thầy thấy nhiều khi chúng bị chết hay bị gãy chân, hay bị đau khổ mà chúng ta không thấy điều đó.

Do hành động của tánh hay đánh đập làm đau khổ chúng sanh bằng tay bằng chân, bằng gạch, bằng đá, bằng roi, bằng đao kiếm như vậy, tạo ra cái nghiệp gây sự đau đớn cho chúng sanh, thì người đó sau khi bỏ thân này sẽ sanh vào nơi cõi dữ, ác thú… Do sanh vào cõi dữ, cõi ác thú, địa ngục họ chịu đau khổ hành hạ thân của họ cho đến khi họ được sanh ra làm người. Mà khi họ sanh ra làm người thì thân họ bệnh hoạn suốt đời, bệnh rất nhiều, không được mạnh khỏe. Do vậy, trong đời này chúng ta thấy có người bị bệnh liên miên bất tận mà không thấy hết, đó là do họ đã tạo những hành động làm đau khổ chúng sanh, trong đó có con người.

Bằng ngược lại, nếu chúng ta không lúc nào đánh đập làm đau khổ chúng sanh, cũng như khi đi tránh không dẫm đạp lên con kiến làm cho chúng bị chết hay gẫy chân, gẫy giò thì đó là mình không có làm đau khổ chúng sanh. Cho dù vô tình mình cũng làm đau khổ chúng sanh, thí dụ trong khi đi kinh hành, vô tình mình đạp lên con ốc sên hay con cuốn chiếu. Nhìn xuống thấy nó quằn quại, nó đau đớn, trong người nó tiết ra một chất nước đó là máu của nó chảy ra. Mình thương chúng, thấy rất là đau đớn thương xa. Mình tu hành thì cảm thấy như vậy, nhưng những người ngoài thế gian họ có thấy thương xót chúng không hay họ còn lấy cây, lấy gậy gộc đập cho nó chết nữa. Cho rằng con vật này dơ bẩn, con vật này thế này thế khác, chớ họ đâu có nghĩ như chúng ta. Cho nên do tâm làm đau khổ chúng sanh đó, khi họ sanh ra làm người họ chịu nhiều bệnh tật. Cho nên xét trong thế gian này có người nhiều bệnh tật cũng đều do chỗ hành động vô tình hoặc hữu ý của mìnhđã gây đau khổ cho chúng sanh bằng tay, bằng chân...

Như vậy, khi được học bài này rồi chúng ta sẽ từ giã, tức là chúng ta sẽ từ bỏ, chúng ta sẽ dứt trừ hành động làm đau khổ chúng sanh. Nghĩa là con cái trong nhà của mình có sai, có làm không đúng cái gì đó, mình cũng không nên lấy tay mình tát nó nữa. Hành động làm cho nó đau một chốc lát đó mà sau này mình sẽ bị bệnh hoạn thì nó lại càng đau biết bao nhiêu hơn. Do đó, muốn tránh nghiệp khổ đau vì bênh tật cho chính bản thân mình thì mình đừng làm khổ đau ai cả hết. Vợ con có làm điều gì sái quấy, chúng tạo ra nhân quả thì để chúng gặt lấy, mình không vì đó mà lại đánh chúng để tạo nhân quả cho mình, tạo cho mình cái nghiệp thân sau này phải chịu những bệnh hoạn khổ đau. Khi chúng ta thực hiện không đánh không đập, không làm đau khổ cho chúng sanh như vậy thì chúng ta không có bệnh hoạn, ít bệnh hoạn.

Chưa chắc trong chúng ta không có người nào mà không làm đau khổ chúng sanh, cho nên khi đời chúng ta bị bệnh hoạn thì phải biết chắc chắn do chúng ta đã làm đau khổ chúng sanh. Vì vậy chúng ta hiểu, đời trước chúng ta, khi chưa biết Phật pháp, chắc chắn chúng ta phải có làm những điều gì đau khổ, cho nên hiện giờ thân chúng ta phải có những bệnh tật. Do nhân quả nghiệp báo mà chúng ta phải vay trả, vậy bây giờ chúng ta nên vui vẻ mà trả quả những bệnh tật chứ đừng nên buồn.

Có nhiều người cứ nghĩ rằng đời nay tôi làm lành, làm thiện, tôi đâu có làm gì ác đâu, tôi luôn luôn thương xót mọi người, tôi làm việc từ thiện bố thí mà sao thân tôi khổ như thế này? Chúng ta đâu nhớ trong thời tuổi trẻ, lúc chúng ta chưa hiểu biết, nhiều khi chúng ta bắt 2 con kiến đang khỏe mạnh, ngắt chân, ngắt càng của nó. Hay khi đi ra biển chúng ta bắt mấy con còng, mấy con dã tràng, rồi chúng ta chơi ngắt chân ngắt giò nó. Đó là những cái mà chúng ta làm nó đau khổ. Lúc đó chúng ta vô tâm, nhưng bây giờ chúng ta thọ lấy quả bệnh thì chúng ta trách ai đây? Có phải do từ hành động chúng ta làm đau khổ chúng sanh mà bây giờ chúng ta phải thọ lấy những bệnh tật thì chúng ta làm sao than phiền trách ai được.

Đó là nói về thân bệnh của chúng ta, bệnh nhiều hay bệnh ít là do nghiệp làm đau khổ chúng sanh nhiều hay ít mà trong bài kinh này Phật đã dạy rất rõ ràng.

3. Nghiệp: Lý do người Xấu hay Xinh Đẹp.

“Nếu một người đàn ông hay một người đàn bà tánh hay phẫn nộ, nhiều phật ý”. Nghĩa là bị nói đến một chút thì bất bình, phẫn nộ, sân hận, chống đối, tỏ vẻ phẫn nộ, bất mãn, luôn luôn lúc nào cũng phật ý mình, ai nói ra cái gì cũng phật ý mình, cho nên khi bị nói đến một chút thì sân ầm ầm nổi lên, phẫn nộ lên, sân dữ tợn lên, rồi tỏ vẻ chống đối đủ mọi cách, thậm chí như còn đánh lộn với người khác nữa. Hoặc tỏ ra bất mãn, không muốn ăn, không muốn ở trong nhà này nữa. Đó là những biểu lộ của tánh hay phẩn nộ sân hận. Do cái nghiệp đó thì người đó họ sẽ có những quả nào đây?

Đây đức Phật nói nghiệp đó cho chúng ta thấy rất rõ ràng: "Do nghiệp ấy đã thành tựu” - tức là nghiệp nó đã thành rồi đó, “thì khi thân này bị hoại chung, tức là họ chết, họ sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục”, nghĩa là họ sanh vào các cảnh giới khổ đau, cảnh giới khổ đau nhất mà đức Phật gọi là địa ngục. Rồi sau đó họ được sinh làm người, mà khi làm người thì mặt mày họ thô xấu.

Bây giờ mình thấy người nào mặt mày không đẹp đẽ, không có trang nghiêm, không có những tướng vẻ tốt thì đó là những người đã có những sân hận, những phẫn nộ dữ tợn cho nên họ mới có thân hình xấu, gương mặt xấu xí.

Hôm nay, với bài kinh này, chúng ta nhìn ở trong chúng của ta, người nào có khuôn mặt xấu xí, có thân hình gù lưng, tật nguyền, không được đẹp đẽ, tướng không được cao đẹp thì do trong quá khứ họ có những phẫn nộ, những dữ tợn ở trong lòng của họ, có những sự bất mãn, bất bình, đối phó, chống lại. Đó là họ tạo cho họ có thân hình xấu xí, họ tạo cho họ có gương mặt không đẹp đẽ, răng hô, mặt rỗ hoặc là trán vồ. Tất cả những thân, mặt của họ là do những hành động dữ tợn, phẫn nộ sinh ra. Đây là con đường đưa đến con người có một thân hình xấu xí.

Ngược lại, khi có những điều gì khiến chúng ta không vừa lòng thì chúng ta không phẫn nộ, không phật ý, lúc nào cũng nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng thì lúc sau này chúng ta sẽ sanh lên làm người có gương mặt đẹp đẽ, tướng hảo quang minh, không có xấu xí. Đó là con đường đưa đến chúng ta có được thân tướng người đẹp đẽ, tốt đẹp.

Qua bài kinh này chúng ta thấy sự phẫn nộ, sự sân hận của chúng ta có tốt không? Không tốt. Vậy từ đây về sau chúng ta phải nỗ lực, nhất là người cư sĩ chung đụng trong gia đình con cái, vợ con, bè bạn, hàng xóm, người thân, cha mẹ… thì chúng ta thấy rằng phẫn nộ đem đến hậu quả là những con người tật nguyền xấu xí, không có đẹp đẽ. Cho nên chúng ta nỗ lực thực hiện đừng có phẫn nộ, đừng có sân hận, mà luôn lúc nào cũng nhẫn nhục, tùy thuận, bằng lòng trong mọi hoàn cảnh, mọi ý nghĩ của người khác, mọi tư tưởng của người khác. Có như vậy chúng ta sẽ tự tạo cho mình sau này có thân hình rất là đẹp đẽ.

Bài pháp này là bài pháp để cho người cư sĩ tu, bởi vì người cư sĩ tu trong các đối tượng có sẵn sàng. Còn người tu sĩ sống trong rừng, họ không sống trong cảnh như người cư sĩ thì làm sao họ có sân hận, có phẫn nộ được. Cho nên trước khi người cư sĩ đi vào cảnh xuất gia thì người cư sĩ đã thực hiện dứt trừ được sân hận, phẫn nộ này, như vậy người cư sĩ đã tạo được duyên tốt cho gia đình, cho chính bản thân người cư sĩ không làm khổ mình, không làm khổ người.

4. Nghiệp: Lý do có Quyền Thế

Kế đến Phật dạy tiếp, “Nếu một người đàn ông hay một người đàn bà tâm tánh tật đố, ganh ghét đối với người khác, thấy người ta được quyền lợi, được sự tôn trọng, được sự tôn kính, cúng dường, đảnh lễ thì mình sanh ra ôm ấp trong lòng tật đố, ganh tỵ". Do lòng của mình luôn luôn ôm ấp sự tức tối, đố kỵ, ganh ghét, Thầy thí dụ như quý thầy thấy trong huynh đệ có người tu được, mình thấy mình tu dở hơn họ, đâm ra mình tức tối hoặc thế nọ thế khác, thì sự tức tối đó là do lòng ganh tỵ. Nhưng lòng ganh tỵ đó nó có 2 góc độ, Góc độ thứ nhất là ganh ghét rồi tìm cách hại người khác – cái đó quá tệ. Góc độ thứ hai là thấy mình tu hành thua hoặc là mình học hành thua người, cho nên mình ráng cố gắng học hành để cho bằng hoặc hơn chứ mình không chịu thua, thì cái đó cũng có ganh tỵ, nhưng cái ganh tỵ đó tốt. Còn cái ganh tỵ ở góc độ thứ nhất kia là mình tìm cách dìm người ta, mình hại người ta, thấy người ta hơn mình mình không muốn họ hơn, mình đem ra nói xấu họ với người này người khác, làm cho người ta bị họ chê cười này kia nọ, mình đặt ra thế này thế khác vu khống họ bằng mọi cách thì mình sẽ tạo nên cái nghiệp đó như thế nào?

Ở đây Phật có vạch cho chúng ta thấy rõ: "do nghiệp ấy đã thành tựu", tức là nó thành tựu được, nghĩa là cái nghiệp do mình có những tâm tật đố ganh ghét như vậy, đã trở thành nghiệp rồi, thì sau khi thân hoại mạng chung, mình sẽ sinh vào những cõi giới ác thú, nghĩa là sinh làm những con thú dữ, cõi giới dữ và sa xuống địa ngục để thọ lấy những quả khổ do ganh tỵ đó. Nghĩa là mình ganh tỵ, mình có lòng ganh tỵ rồi mình làm ra những hành động như vu khống hoặc tạo thế này thế kia để người bị mình ganh tỵ thọ lấy nhiều sự đau khổ, thì mình phải gánh chịu ở trong cảnh địa ngục quả những hành động ác đó, như bị người ta hành hạ, bị người ta cũng làm cho mình đau khổ đủ điều. Sau khi thọ lấy những quả khổ đó hết rồi thì mình sanh ra làm người mình không có quyền thế hoặc là có quyền thế rất nhỏ, không có quyền thế lớn. Nghĩa là người ta không tin tưởng mình nhiều, không có thế lực lớn để cho mình làm các công việc lớn được, mình hầu như là không có được quyền thế, mà có được thì có rất nhỏ, rất ít. Đó là con đường đưa đến không có quyền thế.

Con đường ghen ghét, tật đố người khác tạo cho mình tu hành cũng chẳng ra gì, chẳng đi đến đâu hết. Cho nên khi chúng ta hiểu biết được con đường đưa đến không có quyền thế, thì chúng ta không ganh tỵ ai hết, không nói xấu ai hết. Mình nói xấu người khác tức là mình có lòng ganh tỵ. Khi thấy người nào mình không ưa rồi mình nói người đó như thế này như thế kia thì cái đó là ganh tỵ. Chẳng hạn như bây giờ Thầy thấy ông thầy nọ có một cái chùa tốt, Thầy thì không có cho nên Thầy ganh tỵ ông ta, Thầy nói ông ta thế này thế khác, thì đó là lòng ganh tỵ của Thầy. Vì vậy cái uy thế của Thầy, quyền thế của thầy lần lần nhỏ đi đến khi nó mất, nó không còn có nữa.

Còn khi mình không nói ai, mình không ganh tỵ với ai hết thì càng ngày quyền thế của mình, lòng tin của mọi người đối với mình càng nhiều lên. Mà lòng tin của mọi người đối với mình càng nhiều lên thì mình nói ra lời nói có thế, có thần, người ta tin tưởng ngay liền, cho nên nó có cái lực. Còn mình nói ganh tỵ, nói những điều mà mình chê bai người này, chê bai người kia đó là cái lòng ganh tỵ của mình. Thí dụ Thầy bây giờ dạy về pháp Giới - Định - Tuệ, có người dạy thiền Đông Độ, Thầy nói thiền Đông Độ không đúng, sai hoặc là thế này thế khác, thì đó là lòng ganh tỵ của Thầy. Hoặc là Thầy nói thiền Công án sai hoặc Thầy nói Đại Thừa sai hoặc Thầy nói niệm Phật sai thì đó là cái lòng ganh tỵ của Thầy.

Bởi vậy, khi chúng ta bảo ai là sai thì đó là chúng ta đã có tâm ganh tỵ, mà đã có tâm ganh tỵ thì lần lượt chúng ta sẽ mất quyền hạn và từ đó không ai còn tin tưởng chúng ta nữa.

Cho nên quý thầy thấy rõ ràng những cuộn băng Thầy dạy cho chúng ở đây hầu như là Thầy phá chấp của quý thầy trong những đường lối tu không đúng đường lối Giới - Định -Tuệ. Mà phá chấp như vậy, quý thầy thấy cuộn băng nào Thầy cũng cấm không cho lưu hành, tại sao vậy? Tại vì cho lưu hành như vậy tức là mình bài bác người ta, mà bài bác người ta tức là tâm ganh tỵ của mình. Do đó những cuộn băng Thầy dạy cho chúng ở đây chỉ đểcho chúng ở đây chuyên vào Giới – Định – Tuệtu hành, vì vậy mà chúng ở đây không còn lầm lạc vào đường tu khác nữa. Do vì vậy mới có những lời nói mạnh bạo. Khi lời nói mạnh bạo này đem phổ biến lưu hành ra thì đương nhiên người ta sẽ xem thấy mình đang ganh tỵ, đang tỏ lòng ganh tỵ. Cho nên Thầy cấm bặt không được lưu hành. Thế mà lần lượt rồi các vị cũng lén để cho người này nghe, người kia nghe.

Ở đây mục đích của Thầy là nhằm dạy chúng ở đây tu hành, chớ không phải đem ra cho người khác nghe. Vậy Không được phổ biến ra ngoài những lời Thầy dạy ở đây, bởi vì trong thế gian này về Phật pháp thì có nhiều đường lối tu tập, mà nếu đứng ở góc độ mình chê người khác thì đó là mình sai, mình không đúng. Người ta tu được ở trong pháp nào của Phật nó cũng đem đến lợi ích cho họ. Lẽ nào tu theo pháp của Phật mà họ làm điều ác. Cho nên mỗi Pháp đều có điều lợi ích, nhưng đi đến mức cuối cùng để đạt mục đích của đạo Phật, có tới đó hay không thì tùy phước báu, tùy duyên của họ ở trong Pháp môn đó. Còn chúng ta có đạt được mục đích cuối cùng đó thì cũng tùy phước duyên của chúng ta mà thôi, chứ không phải chúng ta hơn thua với họ, không phải chúng ta ganh tỵ với họ. Ai có duyên với Pháp nào thì tu Pháp ấy, mà Pháp ấy nó cũng có lợi ích cho họ, cũng đem đến cho họ sự tu tập. Vì thế trên bước đường tu tập, Thầy nhắc quý thầy khi chúng ta được học tu ở đây và giữ gìn được giới luật của mình nghiêm túc ở đây thì quý thầy không nên: thứ nhất là không nên khoe khoang; thứ hai là không nên lấy giới luật, thiền định của chúng ta đã làm được ở đây mà chê bai chỉ trích người ta tu không đúng. Điều đó là điều Thầy đại kỵ.

Chúng ta là những tu sĩ đúng đắn của đạo Phật thì phải biết lòng ganh tỵ, tật đố này là cái xấu, là cái tệ chớ không phải là cái tốt đẹp. Và nhân quả của nó sẽ làm người đó mất uy tín, không còn thế lực, không còn quyền lực nữa, mất đi. Vì vậy nếu chúng ta là những người tu để thắp lại ngọn đèn của Phật pháp, để thắp sáng lại ngọn đuốc của Phật pháp, thì chúng ta cần phải lưu ý về phần tu tập này: Tâm không được đố kỵ, không được ganh ghét một pháp nào trên thế gian này, cho dù pháp đó của tôn giáo nào khác cũng vậy.

Cho nên ngày xưa đức Phật rất cấm kỵ, khi người ta hỏi để tu thì đức Phật cùng cực lắm mới đem ra giảng chớ không bao giờ muốn tranh luận và hý luận. Phật cấm các đệ tử của mình không được tranh luận, không được hý luận với ai, dù người ta có chê bai mình thế nào, cũng mặc, mình biết rằng con đường mình tu là giải thoát, là đem đến sự hạnh phúc cho bản thân mình và cho những người xung quanh. Vì vậy mà mình không nên đố kỵ, không nên ganh ghét ai hết cả.

Ngược lại khi chúng ta không tật đố, không ganh ghét ai hết thì chúng ta sẽ có quyền thế lớn. Vậy quý thầy phải nghe lời Thầy dạy là mình không chê bai ai hết thì quyền thế, uy tín của mình càng ngày càng to lớn. Còn mình chê bai, rỉ tai nói người này, rỉ tai nói người kia thì cái quyền thế mình càng ngày bị mất đi, uy tín của mình càng ngày bị mất đi. Thí dụ như trong huynh đệ chúng ta có những người mà chúng ta không hòa hợp nhau được, rồi chúng ta đem ra nói thầy đó vầy vầy, thì tức là chúng ta đã tự hại quyền thế của mình, tự hại uy quyền của mình, vì điều mình nói ra người ta nghe nhưngkhông tin mình ngay liền mà người ta còn suy nghiệm, không ai nghe mà người ta tin liền đâu.

Cho nên quý thầy cẩn thận, chúng ta không nên đem một người nào, huynh đệ chúng ta mà chê bai. Chê bai ai thì coi chừng chúng ta vì lòng ganh tỵ hoặc vì cái gì bất mãn, không ưa nhau rồi chúng ta chê bai. Coi chừng chúng ta tự mình giết mình chứ không phải giết người đó đâu. Vì người nghe ta nói đó còn quan sát, xét xem; người ấy còn theo dõi coi người bị nói, bị chê bai có đúng như lời chê bai không, nếu thấy không đúng như lời mình nói thì những lời chê bai đó ngược lại sẽ giết mình, lời nói của mình sẽ tự giết mình chết, nó làm cho mình mất uy tín với mọi người. Làm cho mình không còn ai tin tưởng mình nữa hết.

Đó là một bài học để hôm nay Thầy răn nhắc quý thầy.

Giáo án của đức Phật trong bài học hôm nay giảng dạy chúng ta đó là: có cái ngã của chúng ta ngầm trong tâm tật đố ganh ghét, cái ngã của chúng ta đồ sộ mới có cái tâm tật đố ganh ghét này. Vì vậy mà chúng ta phải thực hiện từ bỏ tâm này, không bao giờ nói xấu ai hết. Nghĩa là ai làm nhân nào thì họ gặt quả nấy, chúng ta hoàn toàn không nói ai hết. Ai làm gì mặc họ, chẳng biết gì đến ai. Nếu chúng ta đem rỉ tai nói người đó vầy vầy, người kia vầy vầy là chính người nói đó là người xấu.

Cho nên khi một người nào nói với Thầy người đó vầy, người kia vậy thì Thầy làm thinh chứ Thầy biết, Thầy đánh giá trị cái người nói rồi, chứ Thầy không đánh giá trị người bị nói xấu đâu, Thầy đánh giá trị cái người đang nói cho Thầy biết về người kia. Thầy nói như vậy là quý thầy biết rằng Thầy không phải là cái người còn ở trong tâm phàm phu, nghe lời những người khác. Thầy thấy là có một số người không sáng suốt ở chỗ này:Khi nghe một người nào đó nói thì người nghe liền tin lời người nói liền. Cho nên Thầy nói như thế này để cho quý thầy biết, biết bao nhiêu người nói với Thầy Thanh Từ về Thầy, họ bảo Thầy như thế này, như thế khác. Nhưng thầy Thanh Từ có nghe không? Chắc chắn là Thầy Thanh Từ không nghe đâu. Bởi vì một bậc tu hành như HT Thanh Từ, chắc chắn là HT Thanh Từ rất sáng suốt.

Vì bài học này là Phật đã dạy: Một người đem chuyện người khác nói xấu mình cho mình nghe, nói cái người đó nói xấu mình như vầy như kia, thế này thế khác, thì cái người được nghe đó, họ có tin không? Nếu là một bậc chân tu thì họ không bao giờ tin đâu. Mà ngược lại họ cho người đang nói xấu đó là người xấu. Vậy quý thầy phải hiểu, Thầy thì ở trong tâm niệm đó, cho nên Thầy nghĩ rằng HT Thanh Từ cũng ở trong tâm niệm đó. Bậc chân tu mà người ta nghĩ họ theo tâm trạng phàm phu, cho rằng nói đâu họ nghe đó, tin đó.Không bao giờ họ tin dễ dàng như vậy đâu.

Hôm nay Thầy nói để cho quý thầy rút tỉa kinh nghiệm, nhiều khi Thầy thấy tâm quý thầy còn yếu đuối, tâm nghĩ đến thương Thầy, vì mình theo Thầy mà người ta phỉ báng thầy mình cho nên mình bảo vệ bằng cách này hay bằng cách khác. Bảo vệ thế cũng sai, không đúng.Là tại sao? Tại vì cách bảo vệ vậy không đúng. Người ta nói gì thì nói, mặc. Không bảo vệ gì hết, để cho người ta tự thấy người đệ tử của Thầy không lý luận. Nếu nói: "Thầy tôi vầy vầy", thì lời nói đó cũng là cái sai. Người ta sẽ nói mèo khen mèo dài đuôi.

Cũng như giờ quý thầy học với Thầy, rồi ra nói rằng thầy tôi tu như vầy như vầy, khen Thầy như là ông Phật vậy đó. Thì người ta có tin không? Người ta đâu có tin quý thầy, quý thầy là đệ tử của Thầy cho nên người ta không tin, người ta còn phải thấy thật, người ta còn phải chứng nghiệm thật. Mà chứng nghiệm thật bằng cái gì? Bằng cái mà quý thầy huênh hoang khoe Thầy mình. Như vậy người ta sẽ phê bình: “Học trò của ông thầy đó như vậy, huênh hoang về ông thầy đó như vậy, thì ông thầy đó cũng huênh hoang như vậy mà thôi”. Các thầy phải hiểu điều đó, cho nên một người trí người ta đánh giá trị ngược lại khi mình huyênh hoang khoe ông thầy mình. Còn trái lại các thầy nghe người ta khen hay chê, cũng mặc. Rồi đây các người sẽ thấy, sẽ hiểu biết được.

Do đó người ta thấy cái người đệ tử của Thầy trước lời người ta phỉ báng thầy mình vẫn âm thầm vui vẻ, không có buồn, không có tức giận gì hết thì biết rằng hạnh tu của những bậc này không phải thường. Còn thấy người ta mạ nhục thầy mình, nói thầy mình như thế này như thế khác, mình sùng lên, thì ở thế gian người ta cũng vậy, mình có hơn gì đâu.

Cho nên hôm nay bài học này là bài học của những người cư sĩ để chúng ta biết, chúng ta giữ gìn. Nhất là những người cư sĩ thường tiếp xúc, còn chúng ta là những tu sĩ xuất gia chúng ta ít tiếp xúc đời, cho nên chúng ta không có cái khen chê đó.Nhưng những người cư sĩ đến với Thầy rồi về sống trong gia đình, nhiều khi nghe người ta chạm đến Thầy mình là sùng tức lên liền. Vậy bài này là bài học cho những người cư sĩ còn tại gia muốn bảo vệ thầy mình, những người cư sĩ này chẳng nên nói lời bào chữa nào hết. Người ta nói gì mặc người ta, còn mọi người khác nghe họ phán xét, chứ đâu phải nghe nói rồi người ta tin theo lời người nói đó đâu.

Quý thầy phải hiểu biết ở chỗ Thầy dạy ra là mỗi mỗi chúng ta đều phải thực hiện ở oai nghi tế hạnh, cái đức hạnh của người tu sĩ chúng ta là ở chỗ đó.

Nhân bài dạy người cư sĩ tu tập ở giai đoạn thứ nhất này, quý thầy sẽ hiểu biết được cái chỗ trích dẫn ra những lời Phật dạy này nhằm mục đích cho chúng ta thực hiện được đức hạnh của người cư sĩ đệ tử của đức Phật.

5. Nghiệp: Lý do của Giàu hay Nghèo

"Nếu một người đàn ông hay một người đàn bà tâm lòng nhỏ mọn, ích kỷ, không bố thí, không san sẻ", nghĩa là người nhỏ mọn, ích kỷ không có bố thí, không có san sẻ, không có cúng dường, thí dụ có người có được 9 đồng thì luôn luôn lúc nào cũng cố kiếm thêm đồng nữa để được 10 đồng, lúc nào cũng tiết kiệm không dám xài tiền, không có bố thí, không có lòng rộng rãi với người khác; thì người này khi họ chết đi, họ sanh làm người thì nghèo khổ, tài sản không có, hay chỉ có rất nhỏ.

Hiện bây giờ, chúng ta thấy trong xã hội có những người nghèo khổ, rách rưới, lang thang không nhà không cửa hoặc là có chút ít tài sản đủ ăn qua ngày. Thì những người này trước kia là người có lòng ích kỷ, hẹp hòi, không biết bố thí san sẻ.

Không phải chúng ta nghèo mà chúng ta không bố thí được, do lòng chúng ta, đâu cần chúng ta phải có nhiều tiền nhiều bạc mới bố thí. Thí dụ bây giờ chúng ta nghèo, chúng ta không có mà chúng ta thấy người đó nghèo hơn mình, khổ hơn mình hoặc là đang cơn đói, mình chỉ cần san sẻ cho họ một bát cơm, một đồng bạc, thì như vậy nó quý hơn là người giàu bỏ ra một triệu bạc.

Cái lòng của chúng ta, cái lòng mà người đó dù đang nghèo mà vẫn biết san sẻ bố thí cho kẻ khác, biết cúng dường thì sự san sẻ cúng dường đó sẽ làm cho người đó sống trong cảnh đầy đủ và giàu sang, có của cải tài sản lớn. Vì vậy khi ích kỷ, bỏn xẻn, tiện tặn, không dám bỏ ra cho ai hết, có bao nhiêu thì chỉ biết chi dụng cho mình, cho gia đình mình, thì ngay trong kiếp này họ chắt bóp từng đồng chứ chưa chắc là đã giàu được. Thế rồi kiếp tới, họ còn nghèo khổ hơn và tài sản chẳng có gì, có chăng cũng chỉ chút ít mà thôi, cho qua ngày trong cuộc sống của họ. "Do vì vậy mà con đường này, hành động này đưa đến cảnh nghèo khổ của con người".

Hành động ngược lại, là bố thí, san sẻ, cúng dường. Hành động đó sẽ đưa chúng ta đến tài sản lớn, giàu sang, có tiền của đầy đủ không bao giờ thiếu ăn thiếu mặc.

So sánh được như vậy thì trong cảnh nghèo chúng ta vẫn bố thí.

Ở đây Phật dạy: Chúng ta được giàu có, được có tiền nhiều là do có sự bố thí, san sẻ, giúp đỡ những người bất hạnh ở trong xã hội của chúng ta.

Cho nên xưa có một bà già đi ăn xin, bà rất nghèo, trong buổi hôm đó bà đi xin mà không được gì hết, nhưng ông Ca Diếp thấy bà già này cần phải được độ. Bây giờ bà nghèo quá, mà suốt đời bà không biết bố thí cho ai hết, đi xin mà bà còn không đủ ăn thì làm sao bố thí cho ai được. Ông Ca Diếp muốn cứu bà này thoát cảnh nghèo đói, nên ông đến xin bà: "Bà hãy bố thì cho tôi thì bà sẽ được giàu sang sung sướng, bà sẽ được đầy đủ hơn, bà hãy bố thí đi, có cái gì cũng được, bà bố thí đi". Bà nói: "Tôi xin hồi sáng đến giờ không được 1 đồng xu nào hết, làm sao tôi bố thí được ông. Tôi còn đói gần chết mà làm sao tôi cho ông được", ông Ca Diếp ông nài nỉ: "Bà hãy bố thí đi, bà hãy bố thí cái gì mà bà có trong người của bà, cái gì mà bà có trong lòng của bà thì bà hãy bố thí đi". Bà nghe ông thầy này nài nỉ bà bố thí một cách rất tha thiết cho nên bà quỳ xuống nói: "Bây giờ tôi chỉ có tấm lòng bố thí cho ông mà thôi",với tấm lòng thành, bà dâng 2 bàn tay lên. Ông Ca Diếp nhận sự bố thí tấm lòng thành của bà chứ chẳng có đồng xu tiến nào hết, hoàn toàn chẳng có vật gì hết. Đêm hôm đó bà chết, bà được sanh lên cõi trời, được hưởng đầy đủ cái ăn cái mặc.

Như vậy, chúng ta thấy chỉ có lòng bố thí như vậy với một bậc Alahan thì ngay đó phước báu rất lớn, rất là vĩ đại, được sanh lên cõi trời liền tức khắc.

Qua một chuyện bố thí này thì người cư sĩ chúng ta cũng cần phải học, học để làm gì? Để chúng ta biết bố thí, để chúng ta biết san sẻ trước những cảnh khổ. Mình khổ còn có người khổ hơn. Mình còn có mái nhà còn người ta ngủ ngoài hè phố, người ta ngủ dưới gầm cầu. Mình còn sung sướng hơn. Do đó, mình hãy bố thí cho họ một nắm cơm, một đồng bạc, mặc dù mình đang trong cảnh rất bức bách, rất nghèo khổ.

Mình hãy cúng dường cho những bậc chơn tu, giới đức thanh tịnh, thiền định sâu mầu thì công đức thành tâm cúng dường đó nó sẽ đưa chúng ta đến đầy đủ cơm ăn áo mặc hơn. Nhớ cái hạnh bố thí là cái điều rất tốt để giúp cho đời hiện tại cũng như mai sau, chúng ta mãi mãi đầy đủ cơm ăn áo mặc, không thiếu.

6. Nghiệp: Lý do của Hạ Liệt hay Cao Quý

Chúng ta thấy cái tính tình ngạo nghễ, kiêu mạn, nó sẽ đưa đến chỗ nhân quả nào đây? "Nếu một người đàn ông hay một người đàn bà tính tình ngạo nghễ, kiêu mạn, không tôn kính những bậc đáng tôn kính, không biết nhường chỗ ngồi, nhường lối đi cho những người già yếu, bệnh tật". Đây, chúng ta sẽ thấy con đường này: "Do nghiệp ấy thành tựu", tức là trở thành thói quen ngạo nghễ, kiêu mạn, "sau khi thân hoại mạng chung người ấy sẽ sanh về nơi ác thú, đọa xứ, trong cảnh khổ đau. Sau khi sanh lên làm người, sanh trong gia đình hạ liệt", ăn học không đến nơi đến chốn, thường làm những việc lao công cực khổ, bị người khác sai khiến, sai bảo. Đó là con đường đưa đến những gia đình hạ liệt, nghèo khổ.

Vậy thì nếu đời này mình ỷ mình có tiền có bạc, có quyền thế, có học hành mà mình kiêu mạn, coi người ta không ra gì. Hay Ỷ mình tu hành tốt, mà người khác tu không ra gì. Mình có vẻ tự kiêu tự đại, mình ngạo nghễ, thì hành động này, nhân này sẽ tạo nghiệp, sẽ đưa chúng ta sanh trong những gia đình hạ liệt, chúng ta không đủ phương tiện đi học. Vì hạ liệt, làm sao chúng ta có tiền, vì gia đình hạ liệt làm sao có sự hiểu biết cho nên làm sao cho con mình đi học đầy đủ, làm sao chúng ta có đủ duyên mà tu hành.

Tất cả những cái hạ liệt này là do tánh kiêu mạn, ngạo nghễ của chúng ta mà đưa chúng ta đi đến cái lối này, làm cho đời kế tiếp của chúng ta sẽ là bước đường, rất là đau khổ, trong xã hội chúng ta không bằng ai hết.

Ngược lại, nếu chúng ta diệt tính kiêu mạn, ngạo nghễ, mặc dù chúng ta sống trong gia đình rất là giàu sang chúng ta không kiêu mạn ai hết, không khinh chê ai hết. Chúng ta học hành giỏi, chẳng kiêu mạn, chẳng ngạo nghễ hơn ai hết. Rồi chúng ta làm những nghề nghiệp có kinh tế dồi dào, chúng ta cũng chẳng khinh chê ai hết. Nghĩa là mình phải xét qua những nhân ác, nhân thiện, qua những hành động bố thí của người ta, do đó lúc nào mình cũng khiêm hạ, từ tốn, không có kiêu mạn, không có ngã mạn trước mọi người, mọi hoàn cảnh, thì sau này chúng ta sẽ sanh vào trong những gia đình cao quý, giàu có. Đó là con đường đưa đến gia đình cao quý; chúng ta sinh trong gia đình có học thức, cao quý, có tiền bạc, có đầy đủ những quyền thế khi vừa mở mắt chào đời.

Đó là cái tánh ngã mạn, kiêu căng của chúng ta, mà Thầy thấy hầu hết mọi người đều có tánh ngã mạn, kiêu căng đó, hoặc là ngầm hoặc là lộ ra cho mọi người thấy. Tất cả những cái đó là những cái đưa đến con đường hạ liệt. Cho nên những lời dạy của Thầy ở đây giúp cho quý cư sĩ phải thấy rõ được con đường tu tập của mình. Để cho mình dứt bỏ cái tâm ngạo mạn, cái tâm ngã mạn của mình đi. Đừng có xem thường ai hết, bởi vì ai cũng là một con người, thậm chí như một con vật mình cũng thấy nó bằng mình. Vì Phật đã nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, tức là đều có sự bình đẳng với nhau.Vì vậy chúng ta đối xử với mọi người, người nghèo người khổ cũng như tất cả mọi người xấu tốt, tất cả đều là do nhân quả của họ, chúng ta hoàn toàn không khinh chê người nào hết. Mà khinh chê thì tức là có ngã của chúng ta, mà có ngã thì coi chừng cái kiêu căng ngạo nghễ của chúng ta theo đó mà ra. Cho nên từ đó chúng ta phải thấy nghiệp của chúng ta. Nhân nào thì sẽ chiêu cảm nghiệp nấy, mà nhân xấu sẽ đưa chúng ta đi đến cảnh khổ sở.

Sau khi quý thầy đã nhận thấy nghiệp dẫn đi trong luân hồi, trong cảnh giới khổ vui, hạnh phúc hay bất hạnh, giàu sang tốt xấu đều do nghiệp dẫn đi.

Kết luận

Nghiệp là gì? Nghiệp là những hành động thân khẩu ý của mỗi người tự tạo ra. Quý thầy thấy cái nghiệp từ đâu mà có?Nó đi từ cái miệng của mình, từ cái thân của mình, từ cái ý của mình mà nó tạo ra cho chúng ta hoàn cảnh hạnh phúc an vui hoặc là đau khổ; hoặc là trường thọ, hay yểu tử. Những cái mà Thầy đã nói ở trên.

Đó là những điều mà chúng ta đã thấy trong xã hội, vì vậy chúng ta phải phòng hộ, giữ gìn mắt tai mũi miệng thân ý của mình cẩn thận kỹ lưỡng. Cho nên Phật dạy chúng ta Thánh phòng hộ, nghĩa là chúng ta phải phòng hộ đúng mực của nó. Luôn luôn lúc nào cũng dè dặt cẩn thận giữ gìn mắt, tai, mũi, miệng, thân, ý của mình, đó ba nơi hành động của thân chúng ta để tạo thành nghiệp.

***

Đang có 38 khách và không thành viên đang online

Lượt xem
478
Các bài viết
1288
Số lần xem các bài viết
2286214
52.8%Viet Nam Viet Nam
22.1%Australia Australia
17.6%United States United States
2.3%Japan Japan
1%Canada Canada
1%Germany Germany
0.6%France France
0.3%Kuwait Kuwait
0.1%Republic Of Korea Republic Of Korea
0.1%United Kingdom United Kingdom

Hôm nay: 604
Hôm qua: 751
Tuần này: 2941
Tuần trước: 5229
Tháng này: 22487
Tháng trước: 19512
Tổng cộng: 608791